eMagazine
0%

Kabuki là một trong những loại hình sân khấu được ví như “viên ngọc quý” của nghệ thuật ca kịch xứ Phù Tang. Trong không gian sân khấu ấy, mỗi một động tác, ánh nhìn hay những điệu múa uyển chuyển hòa cùng lớp phục trang cầu kỳ trên sân khấu Kabuki đã tạo nên sức cuốn hút bền bỉ, làm say lòng khán giả suốt hơn bốn thế kỷ qua.

Kokuho.
Ảnh: phim Kokuho (Quốc Bảo)

Tên gọi “Kabuki” được viết bằng ba chữ Hán: “歌 - Ca” nghĩa là “ca hát”, “舞 - Vũ” là “điệu múa” và “伎 - Kỹ” là “kỹ nghệ biểu diễn”. Đây cũng chính là ba yếu tố nền tảng tạo nên nghệ thuật sân khấu truyền thống Kabuki - loại hình kịch nghệ kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo và diễn xuất.

Điệu múa ra đời từ một người vu nữ Điệu múa ra đời từ một người vu nữ.

Nghệ thuật Kabuki được cho là ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 17. Tương truyền rằng, một vu nữ Miko tên Okuni ở đền thờ Izumo Taisha đã trình diễn những điệu múa kết hợp ca kịch theo một phong cách mới, làm say lòng khán giả thuộc mọi tầng lớp xã hội. Và rồi Okuni đã thành lập nên đoàn múa của riêng mình, dạy họ các kỹ năng diễn xuất, khiêu vũ và ca hát, từ đó khai sinh ra những đoàn biểu diễn Kabuki đầu tiên.

Tượng của vu nữ Okuni - người sáng lập nên nghệ thuật Kabuki - tại nhà hát Minamiza.
Tượng của vu nữ Okuni - người sáng lập nên nghệ thuật Kabuki - tại nhà hát Minamiza. Ảnh: broadsyoushouldknow

Đoàn kịch Kabuki của Okuni dần trở nên nổi tiếng trên khắp Nhật Bản, tiếng tăm thậm chí lan đến tận hoàng cung. Sau đó, giới kỹ nữ bắt đầu học theo những điệu múa này để thu hút nam giới. Vì vậy mà chính quyền Mạc phủ đã ban lệnh cấm phụ nữ biểu diễn Kabuki vào năm 1629. Mặc dù lệnh cấm này đã được gỡ bỏ từ lâu và nữ giới cũng dần gia nhập vào các đoàn kịch, nhưng các diễn viên Kabuki hiện nay chủ yếu vẫn là nam giới.

Trên sân khấu kịch Kabuki, ngay cả những vai diễn nữ cũng do nam giới đảm nhiệm. Những diễn viên nam trong vai nữ được gọi là các Onnagata.
Trên sân khấu kịch Kabuki, ngay cả những vai diễn nữ cũng do nam giới đảm nhiệm. Những diễn viên nam trong vai nữ được gọi là các Onnagata. Ảnh: Phim Quốc Bảo (Kokuho)

Cho đến ngày nay, nghệ thuật ca vũ kịch Kabuki là một trong ba loại hình nghệ thuật truyền thống quan trọng nhất Nhật Bản và đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Vậy những yếu tố nào đã làm nên sức hút của loại hình kịch nghệ này trong suốt 400 năm lịch sử? Hãy cùng Kilala “vén màn” sân khấu để tìm hiểu những yếu tố tổng hòa nên một màn trình diễn của nghệ thuật truyền thống đặc sắc này nhé!

Diễn viên - ″linh hồn″ của mọi vở kịch Kabuki Diễn viên - ″linh hồn″ của mọi vở kịch Kabuki.

Trên sân khấu Kabuki, diễn viên được xem là “linh hồn” của vở diễn, đòi hỏi họ phải thành thạo cả ca hát, vũ đạo và kỹ thuật diễn xuất. Vì thế mà hầu hết các diễn viên kịch Kabuki đều xuất thân từ các Iemoto - những gia tộc có truyền thống nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Từ khi còn rất nhỏ, họ đã được học ca hát và rèn luyện các kỹ thuật biểu diễn của nghệ thuật Kabuki. Sau đó, các diễn viên nhí này sẽ theo chân cha và ông - những diễn viên Kabuki kỳ cựu - ra mắt trên sân khấu và tham gia vào các vai diễn nhỏ để tích lũy kinh nghiệm dần dần.

“Hoàng tử bé” Fujima Itsuki - truyền nhân đời thứ 8 của Ichikawa Somegoro. Bên phải là hình ảnh buổi biểu diễn lần đầu tiên ra mắt của cậu bé cùng với cha và ông nội - những nghệ sĩ Kabuki danh tiếng lẫy lừng tại Nhật Bản.
“Hoàng tử bé” Fujima Itsuki - truyền nhân đời thứ 8 của Ichikawa Somegoro. Bên phải là hình ảnh buổi biểu diễn lần đầu tiên ra mắt của cậu bé cùng với cha và ông nội - những nghệ sĩ Kabuki danh tiếng lẫy lừng tại Nhật Bản.

Ngoài ra, những người không xuất thân từ các gia đình Kabuki vẫn có thể tham gia các lớp đào tạo chuyên nghiệp, sau đó trở thành học trò của một diễn viên kỳ cựu, nhận nghệ danh và bắt đầu sự nghiệp từ các vai nhỏ trước khi khẳng định được vị trí của mình trong thế giới Kabuki.

Đặc biệt, nghệ danh của các diễn viên Kabuki sẽ được kế thừa từ thế hệ trước, gọi là “myoseki - 名跡). Khi một diễn viên đã có ít nhiều kinh nghiệm trong nghề và gây dựng được một vị thế nhất định, họ sẽ dần đổi sang những nghệ danh lớn hơn qua nhiều nghi lễ kế thừa danh hiệu, được gọi là Shumei. Nghệ danh thường được truyền cho con cháu trong gia đình, nhưng đôi khi cũng được trao cho con nuôi hoặc học trò xuất sắc, mang ý nghĩa gìn giữ và trao truyền lại tinh hoa của môn nghệ thuật này qua nhiều thế hệ mai sau.

Nam nghệ sĩ Kabuki Onoe Kikugoro VIII (phải) và Onoe Kikunosuke VI (trái) trong buổi lễ kế thừa nghệ danh năm 2025.
Nam nghệ sĩ Kabuki Onoe Kikugoro VIII (phải) và Onoe Kikunosuke VI (trái) trong buổi lễ kế thừa nghệ danh năm 2025. Ảnh: Okamoto Takashi

Trang phục và hóa trang Trang phục và hóa trang.

Khi đã được bước lên sân khấu, các diễn viên đều khoác lên mình những bộ kimono được chế tác thủ công tinh xảo, nhiều bộ còn được dệt tinh xảo với chỉ vàng, chỉ bạc. Kiểu dáng trang phục cũng rất đa dạng, có bộ đơn giản, nhẹ nhàng, nhưng cũng có bộ vô cùng cầu kỳ và lộng lẫy. Bên cạnh đó, nhiều vai diễn còn yêu cầu diễn viên phải đội thêm những bộ tóc giả khá dày và nặng. Vì vậy, một trong những kỹ năng quan trọng của người diễn viên Kabuki chính là khả năng di chuyển và thực hiện những vũ điệu linh hoạt, uyển chuyển trong những bộ phục trang nặng nề và phức tạp.

Nhiều vai diễn đòi hỏi diễn viên phải vận những bộ phục trang cầu kỳ và những bộ tóc giả dày và nặng. Trong hình là vở diễn “Renjishi” (連獅子) - kể về hai cha con sư tử và sự trao truyền sức mạnh, quyền lực và di sản của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhiều vai diễn đòi hỏi diễn viên phải vận những bộ phục trang cầu kỳ và những bộ tóc giả dày và nặng. Trong hình là vở diễn “Renjishi” (連獅子) - kể về hai cha con sư tử và sự trao truyền sức mạnh, quyền lực và di sản của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ảnh: Crea

Bên cạnh phục trang, các diễn viên Kabuki thường sẽ tự mình hóa trang gương mặt để hiểu sâu về tính cách nhân vật. Những người trẻ cũng có thể nhờ những diễn viên tiền bối hỗ trợ trang điểm tạo hình. Lối hóa trang này được gọi là Kumadori, đặc trưng bởi lớp nền trắng tinh được vẽ thêm những đường nét đầy màu sắc để thể hiện những đặc điểm hoặc nét tính cách của nhân vật.

Nghệ sỉ Kabuki trang điểm.
Ảnh: aoyama.ac.jp

Ka - Bu - Ki: Ba yếu tố cốt lõi của một vở kịch Ka - Bu - Ki: Ba yếu tố cốt lõi của một vở kịch.

“Ka - 歌” - Ca khúc và âm nhạc

Trong nghệ thuật Kabuki, yếu tố âm nhạc luôn nắm giữ một vai trò quan trọng để diễn tả nội tâm và cảm xúc nhân vật, khắc họa thế giới và tạo nên những nhịp điệu kịch tính cho mỗi vở kịch. Nhìn chung, yếu tố âm nhạc trong Kabuki được chia thành hai nhóm chính. Trong đó có Nagauta - ca khúc của các diễn viên trong các cảnh múa, được đệm bằng tiếng đàn shamisen và đôi khi đóng vai trò là những khoảng lặng suy tư trong vở kịch.

Dàn Nagauta ở hàng sau.
Dàn Nagauta ở hàng sau. Ảnh: www2.ntj.jac.go.jp

Nhóm còn lại là Gidayu - hình thức kể chuyện có đệm đàn Shamisen. Người kể chuyện được gọi là các Takemoto hoặc Chobo, thường ở khu vực hậu trường và dẫn chuyện hay tường thuật cho các điệu múa của các diễn viên trên sân khấu.

Các Takemoto (nghệ sĩ kể chuyện) sẽ ngồi ở hậu trường để dẫn chuyện cùng người đệm đàn Shamisen.
Các Takemoto (nghệ sĩ kể chuyện) sẽ ngồi ở hậu trường để dẫn chuyện cùng người đệm đàn Shamisen. Ảnh: Fukuoka Now

Một yếu tố quan trọng khác chính là phần âm thanh nền được gọi là “geza ongaku” hay “kuromisu ongaku”. Đây là hiệu ứng âm thanh dùng để tạo ra bối cảnh cho vở kịch, như tiếng nước chảy, tiếng chuông, tiếng gió, tiếng động vật, hay những biến chuyển cảm xúc trong cảnh diễn. Các nhạc công sử dụng nhiều nhạc cụ khác nhau để tạo ra đa dạng hiệu ứng âm thanh, chẳng hạn như đàn shamisen, phách gỗ, trống tay kotsuzumi hoặc các nhạc cụ mô phỏng âm thanh tự nhiên - Narimono.

“Bu - 舞” - Vũ điệu

Trong kịch Kabuki, những điệu múa được lồng ghép xuyên suốt vở diễn. Do lối diễn xuất mang tính ước lệ cao, ranh giới giữa diễn xuất (Ki - 伎) và vũ đạo (Bu - 舞) nhiều khi trở nên rất mờ nhạt. Mỗi bước đi, tạo dáng và biểu đạt cảm xúc của diễn viên đều được thể hiện qua những động tác cách điệu giàu tính tạo hình, gần như là đang thực hiện một điệu múa vậy.

Vũ điệu Kabuki.
Ảnh: The New York Times

Phong cách chuyển động cũng sẽ khác nhau tùy theo từng loại nhân vật. Ví dụ như các vai nữ do các nam diễn viên Onnagata đảm nhận thường có động tác mềm mại, uyển chuyển và tinh tế. Còn các nhân vật Dokegata mang vai trò gây cười cho vở diễn lại có chuyển động linh hoạt, khoa trương, tạo cảm giác vui nhộn. Nhiều vở Kabuki sẽ diễn kết màn bằng một điệu múa tập thể sôi động được gọi là Ogiri Shosagoto, với sự tham gia của toàn bộ diễn viên, khép lại vở diễn bằng một màn cao trào đầy cảm xúc.

“Ki - 伎” - Kỹ thuật diễn xuất

Mie - Tạo dáng đứng yên

Mie là tư thế dừng lại và tạo một dáng đứng mạnh mẽ tại thời điểm cao trào của vở kịch. Lúc này, toàn bộ sân khấu như ngưng đọng, tập trung ánh nhìn của khán giả hướng về điệu bộ và biểu cảm của nhân vật. Khi diễn viên thực hiện động tác Mie, các khán giả - đặc biệt là những người ngồi ở phía sau của khán phòng sẽ hô vang yago (屋号) của diễn viên Kabuki để bày tỏ sự tán thưởng.

Chú thích: Yago (屋号 - ỐC HÀO) là tên phường hội hay tên nhà của các diễn viên. Các nghệ sĩ Kabuki có thể có cùng một họ nhưng hoạt động ở các yago khác nhau. Điều này là do các gia tộc Kabuki lâu đời có rất nhiều thành viên. Qua nhiều thế hệ, các thành viên gia đình bắt đầu phân nhánh thành nhiều nhà khác nhau, mỗi nhà chọn riêng cho mình một yago, có gia huy (kamon) riêng. Ví dụ như các diễn viên thuộc cùng dòng họ Ichikawa, nhưng gia đình Ichikawa Danjuro hoạt động ở phường Naritaya, còn gia đình Ichikawa Kodanji thì hoạt động ở phường Takashimaya.

Nghệ sĩ Kabuki Ichikawa Danjuro XIII thực hiện tư thế Mie trong vở diễn “Shibaraku” năm 2023.
Nghệ sĩ Kabuki Ichikawa Danjuro XIII thực hiện tư thế Mie trong vở diễn “Shibaraku” năm 2023. Ảnh: hochi.news

Nirami - Điệu bộ trừng mắt

Đây là một dạng Mie đặc trưng của của gia tộc Ichikawa thuộc yago Naritaya, được sử dụng trong các buổi biểu diễn trang trọng như lễ kế thừa danh hiệu Shumei. Khi thực hiện Nirami, diễn viên sẽ phải cởi một ống tay áo ngoài, dùng tay trái cầm một chiếc kệ gỗ nhỏ đựng cuộn kinh lễ, nắm chặt tay phải đặt lên ngực, quỳ một gối trên thảm đỏ nghi lễ. Sau đó, diễn viên sẽ mở trừng mắt, đồng thời thực hiện động tác lác mắt và nhìn chằm chằm vào khán giả. Theo quan niệm dân gian, nếu khán giả “bắt được ánh mắt” của diễn viên trong khoảnh khắc này, họ sẽ không bị cảm lạnh trong suốt cả năm.

Diễn viên Ichikawa Danjuro XIII thực hiện động tác “Nirami” trong buổi lễ kế thừa danh vị Shumei của mình.
Diễn viên Ichikawa Danjuro XIII thực hiện động tác “Nirami” trong buổi lễ kế thừa danh vị Shumei của mình. Ảnh: The Kyoto Shimbun

Roppo - Bước đi kết thúc

Roppo (六方), nghĩa đen là 6 phương hướng bao gồm Đông, Tây, Nam, Bắc, Trời và Đất, ý chỉ động tác chuyển động bao trùm không gian của diễn viên. Đây là lối bước đi nhanh, kết hợp với những động tác tay đầy khoa trương, bước chân cao và dứt khoát, tạo cảm giác vừa như đang chạy, vừa như đang trình diễn một điệu múa giàu tính biểu tượng. Động tác Roppo thường được sử dụng để tạo ấn tượng đầy khí thế khi một nhân vật quan trọng phải rời sân khấu.

Roppo.
Ảnh: hochi-news

Hikinuki/Bukkaeri - “Ve sầu thoát xác”

Đây là hai kỹ thuật giúp diễn viên thay nhanh trang phục trên sân khấu chỉ trong tích tắc, thường được sử dụng trong những màn biến hình của nhân vật. Với Hikinuki, diễn viên sẽ mặc hai bộ trang phục chồng lên nhau, bộ bên ngoài được cố định bằng vài sợi chỉ. Khi đến lúc, người hỗ trợ sẽ giật mạnh những sợi chỉ đó khiến lớp áo bên ngoài bung ra, để lại bộ trang phục bên trong. Kỹ thuật này cần sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa diễn viên, người hỗ trợ và hiệu ứng âm thanh để tạo bất ngờ cho khán giả. 

Các diễn viên hỗ trợ phía sau được gọi là koken, giữ vai trò giúp các diễn viên Kabuki thực hiện những màn biến đổi trên sân khấu.
Các diễn viên hỗ trợ phía sau được gọi là koken, giữ vai trò giúp các diễn viên Kabuki thực hiện những màn biến đổi trên sân khấu. Ảnh: ameblo.jp

Còn với kỹ thuật Bukkaeri, diễn viên chỉ cần lật phần áo ngoài ở trên xuống để che lại vạt áo bên dưới là xong. Bukkaeri thường được sử dụng trong những phân cảnh nhân vật tiết lộ thân phận thật sự. Khi này, cả ngoại hình lẫn nét diễn, tông giọng và biểu cảm của nhân vật như trở thành một con người khác, mang đến cho người xem những phân đoạn kịch tích đầy ấn tượng. 

Chi tiết màn “biến hình” của một diễn viên Kabuki với kỹ thuật Bukkaeri.
Chi tiết màn “biến hình” của một diễn viên Kabuki với kỹ thuật Bukkaeri. Ảnh: enmokudb.kabuki.ne.jp

Tachimawari - Kỹ thuật chiến đấu

Trong các vở kịch Kabuki mang đề tài sử thi, các phân cảnh chiến đấu trên sân khấu cần được cách điệu sao cho vừa thể hiện được sự kịch tính của trận chiến, vừa giữ được tính “mỹ” của nghệ thuật ca vũ kịch.Trong một cảnh chiến đấu, mô-típ thường là nhân vật chính đối đầu với nhiều nhân vật phụ

Nhân vật chính thường không di chuyển quá nhiều mà chủ yếu thực hiện Mie tại những thời điểm then chốt. Xung quanh, một nhóm các nhân vật phụ (thường là lính hoặc đối thủ) sẽ thực hiện các động tác mang tính nhào lộn, phô diễn kỹ thuật. Dù gần như không chạm vào nhau và không thực sự dùng vũ lực, các phân cảnh trình diễn Tachimawari vẫn mang đến cho khán giả cảm giác kịch tích và khốc liệt của trận giao chiến.

Tachimawari.
Ảnh: Nipponia

Danmari - Di chuyển trong đêm

Trong các vở kịch lấy bối cảnh đêm khuya trời tối, các diễn viên phải thực hiện những động tác thể hiện như mình không nhìn thấy gì, ví dụ như di chuyển từng bước thật chậm rãi, mò mẫm xung quanh từng chút một. Nếu có chạm phải người khác thì phải giật mình rồi rụt tay lại hoặc nhảy né sang một bên. Trong toàn phân cảnh, các diễn viên phải giữ im lặng như đang diễn một vở kịch câm. Kỹ thuật Danmari thường được sử dụng trong các phân đoạn chiến đấu trong bóng tối hoặc đi tìm bảo vật trong đêm khuya.

Danmari.
Ảnh: ameblo.jp

Ningyoburi - Kỹ thuật “giả rối”

Với kỹ thuật Ningyoburi, diễn viên sẽ thể hiện những chuyển động một cách “cứng nhắc”, đồng thời di chuyển các khớp sao cho trông giống như một con rối. Trong khi biểu diễn, người hỗ trợ sẽ đứng phía sau trong trang phục người chơi rối và thực hiện các động tác trông như đang “điều khiển” diễn viên. Kỹ thuật này được lấy cảm hứng từ Bunraku - nghệ thuật múa rối truyền thống của Nhật.

Ningyo Buri.
Ảnh: nagahama-hikiyama.or.jp

Khám phá cấu trúc sân khấu độc đáo của Kabuki Khám phá cấu trúc sân khấu độc đáo của Kabuki.

Một sân khấu Kabuki thường được trang bị nhiều cơ quan và thiết bị phức tạp, cho phép diễn viên linh hoạt biểu diễn và tạo ra những hiệu ứng chuyển đổi đầy bất ngờ. Từ góc nhìn khán đài, phía bên trái sân khấu được gọi là shimote (下手 - hạ thủ), phía bên phải là kamite (上手 - thượng thủ), còn khu vực sảnh diễn trung tâm được gọi là hon-butai.

Sơ đồ một sân khấu Kabuki.
Sơ đồ một sân khấu Kabuki. Ảnh: Fukuoka Now

Phía bên trái khán phòng có một lối đi kéo dài từ sân khấu đến tận phòng chờ phía sau, được gọi là “con đường hoa” - Hanamichi. Đây không chỉ là lối ra vào của diễn viên mà còn được xem như một sân khấu phụ, giúp diễn viên tiếp cận gần hơn với khán giả và mang lại những màn trình diễn rõ nét hơn.

Diễn viên Kabuki trình diễn trên “con đường hoa” Hanamichi.
Diễn viên Kabuki trình diễn trên “con đường hoa” Hanamichi. Ảnh: japanculturalexpo.bunka.go.jp

Trên hệ thống sân khấu còn được bố trí các sàn nâng đặc biệt có thể di chuyển lên xuống được gọi là Seri và Suppon, giúp diễn viên có thể bất ngờ xuất hiện hoặc biến mất trên sân khấu. Ngoài ra, chính giữa sân khấu còn được thiết kế cơ chế sàn xoay được gọi là mawari-butai, giúp thay đổi bối cảnh của vở kịch nhanh chóng. Hai bối cảnh khác nhau có thể được chuẩn bị sẵn ở hai phía sàn, và khi sân khấu xoay, cảnh mới sẽ xuất hiện ngay trước mắt khán giả trong thoáng chốc.

Cơ chế xoay sân khấu mawari-butai.
Cơ chế xoay sân khấu mawari-butai. Ảnh: Fukuoka Now
Cơ chế sàn nâng Seri (trái) được bố trí ở giữa sân khấu chính và Suppon (phải) được bố trí ở đường Hanamichi.
Cơ chế sàn nâng Seri (trái) được bố trí ở giữa sân khấu chính và Suppon (phải) được bố trí ở đường Hanamichi.
Ảnh: Fukuoka Now

Hai bên rìa sân khấu Kabuki là không gian được gọi là Kuromisu - dành cho dàn nhạc và những nghệ sĩ tạo hiệu ứng âm thanh, còn ở phía trên là vị trí của Yuka - không gian dành cho người dẫn chuyện.

Bên trong phòng Kuromisu (trái) là dàn nhạc tạo hiệu ứng âm thanh cho vở diễn; còn phòng Yuka nằm ở phía trên bên phải sân khấu (ảnh bên phải) là không gian của các nghệ sĩ dẫn chuyện.
Bên trong phòng Kuromisu (trái) là dàn nhạc tạo hiệu ứng âm thanh cho vở diễn; còn phòng Yuka nằm ở phía trên bên phải sân khấu (ảnh bên phải) là không gian của các nghệ sĩ dẫn chuyện.

Nhờ cơ chế dàn dựng sân khấu tinh vi, những vở diễn Kabuki có thể tạo nên những hiệu ứng thị giác đầy ngoạn mục mà ít có loại hình ca kịch nào sánh được. Thậm chí, những sân khấu Kabuki lớn còn được bố trí cơ chế sàn nâng khổng lồ có thể thay đổi cả đại cảnh chỉ trong chốc lát. Một tòa lâu đài trồi lên từ lòng đất hay mái nhà sụp đổ ngay trên sân khấu, thuyền trôi trên đại dương hay những cơn sóng cuộn trào, tất cả đều mang lại cho khán giả trải nghiệm sống động, chân thực và giàu cảm xúc, nhờ vào kỹ thuật dàn dựng sân khấu công phu và đầy sáng tạo này.

Có thể thấy, trải qua hơn bốn thế kỷ hình thành và phát triển, nghệ thuật Kabuki đã được kết tinh từ những tinh hoa của mỹ học, nghệ thuật và truyền thống văn hoá Nhật Bản. Từ nghệ thuật tạo hình, hoá trang, dàn dựng sân khấu cho đến phong cách biểu diễn giàu tính ước lệ, tất cả đã được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, tạo nên một không gian sân khấu kịch nghệ đầy mê hoặc, giữ được sức sống bền bỉ trong dòng chảy thời gian. Đến nay, nghệ thuật Kabuki vẫn tiếp tục chinh phục khán giả trong và ngoài Nhật Bản, trở thành một trong những biểu tượng văn hóa đặc sắc và là niềm tự hào của xứ sở hoa anh đào.