Miyadaiku: Những thợ mộc bậc thầy xây dựng đền chùa trường tồn ngàn năm
Từ lâu, Nhật Bản đã nổi tiếng với những kiến trúc đền chùa bằng gỗ có khả năng đứng vững trước thời tiết khắc nghiệt, thiên tai và động đất qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Để làm nên những công trình trường tồn ấy chính là nhờ vào bàn tay của các Miyadaiku - những bậc thầy thợ mộc đền chùa sở hữu những kỹ năng tinh hoa nhất của nghề mộc truyền thống Nhật Bản được truyền lại qua nhiều thế hệ.
Trong đó không thể không nhắc đến thợ mộc Miyadaiku - những bậc thầy chuyên đảm nhiệm việc xây dựng, tu sửa và bảo tồn các công trình đền, chùa với quy mô lớn. Họ phải trải qua hàng chục năm để làm chủ kỹ thuật Kigumi - phương pháp ghép nối gỗ không sử dụng đinh, đồng thời phải thấu hiểu đặc tính của từng loại gỗ và thậm chí tính toán đến việc sửa chữa công trình cho hàng trăm năm sau này.
Những người làm “nhà cho thần linh”
Nghề mộc đền chùa Miyadaiku được cho là ra đời cách đây hơn 1.400 năm. Sau khi Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thời kỳ Asuka (538-710), Thái tử Shotoku đã cho mời các thợ mộc từ Bách Tế (Baekje - một quốc gia cổ thuộc bán đảo Triều Tiên) đến Nhật Bản để xây dựng ngôi chùa Shitennoji ở Osaka.
Từ đó, những kỹ thuật xây dựng, sửa chữa và bảo tồn đền thờ, chùa chiền được truyền lại qua nhiều thế hệ và hình thành nên các tổ chức thợ mộc đền chùa Miyadaiku. Một trong số những tổ chức nổi tiếng nhất là Kongo Gumi với tuổi đời gần 1.450 năm. Được thành lập bởi Shigemitsu Kongo - một trong những thợ mộc từ Bách Tế, Kongo Gumi vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay và được xem là doanh nghiệp lâu đời nhất thế giới.
“Những công trình mà Miyadaiku xây dựng là “ngôi nhà nơi các vị thần và Đức Phật ngự trị”. Vì vậy, chúng tôi dồn hết tâm huyết vào từng chi tiết của những công trình này và tất cả mọi thứ đều được làm thủ công một cách tỉ mỉ,” Chủ tịch của Kongo Gumi, ông Tone Kenichi chia sẻ.
Tương truyền rằng cái tên thợ mộc Miyadaiku bắt nguồn từ “Omiya-san”, cách người Nhật gọi đền thờ và chùa chiền thời xưa. Nhưng trước đó, họ được gọi là “watari-daiku” (渡り大工), nghĩa là “thợ mộc lưu động”. Họ thường phải rời xa nhà trong nhiều năm, đến sinh sống tại nơi có đền, chùa để học về vật liệu và kỹ thuật xây dựng, đồng thời nghiên cứu và rèn luyện tay nghề bằng cách tham gia phụ việc tại các công trình xây dựng đền chùa.
Vào thời Edo, nghề mộc đền chùa Miyadaiku được chia thành nhiều trường phái, mỗi trường phái lại có quy tắc và những phương pháp, kỹ thuật đặc trưng riêng, chủ yếu do sư phụ truyền nghề lại cho đệ tử.
Những người theo học nghề mộc thường bắt đầu từ tuổi thiếu niên và dành nhiều năm quan sát, phụ việc cho các bậc thầy trước khi được giao những công việc phức tạp hơn. Để được công nhận là một thợ mộc Miyadaiku, người thợ phải có một kỹ năng đặc biệt nổi trội, như bào gỗ đẹp hoặc đục đẽo giỏi. Sau khi trải qua quá trình đánh giá, họ mới được tuyển chính thức vào các đội thợ mộc Miyadaiku.
Một số kỹ năng quan trọng của một thợ mộc Miyadaiku
Bào gỗ - Bài học đầu tiên của thợ mộc Miyadaiku
Để trở thành một người thợ mộc Miyadaiku, ngoài đôi bàn tay khéo léo ra, họ còn phải dành nhiều năm học tập và rèn luyện từ những công việc cơ bản nhất.
Ngày nay, tại trường đào tạo nghề mộc của Kongo Gumi, những thợ mộc trẻ tuổi mới theo học nghề sẽ được dạy cách sử dụng kanna - dụng cụ bào gỗ cầm tay truyền thống của Nhật Bản. Khác với phương pháp đẩy bào gỗ về phía trước phổ biến trên thế giới, thợ mộc Nhật Bản thường kéo bào về phía mình.
Để được xem là thành thạo kỹ thuật này, họ cần phải bào ra những dải gỗ mỏng đến 30 micromet, mỏng hơn cả độ dày trung bình của sợi tóc. Đây cũng chính là bước quan trọng để người học nghề có thể rèn luyện khả năng cảm nhận từng thớ gỗ và kiểm soát lực của đôi tay.
Kigumi - Phương pháp ghép nối gỗ “vô hình”
Một trong những kỹ thuật đặc trưng nhất mà một Miyadaiku cần phải dành hàng chục năm mài giũa chính là Kigumi (木組み) - phương pháp ghép nối những bộ phận gỗ lại với nhau mà không cần dùng keo hay đinh vít. Các thợ mộc sẽ chạm khắc, đục đẽo phần đầu của các bộ phận gỗ để tạo thành những mối ghép vừa khít với nhau.
Hiện kỹ thuật Kigumi có hơn 200 kiểu mối nối ghép với nhiều hình dạng từ đơn giản đến rất phức tạp. Mỗi kiểu mối nối ghép được thiết kế tùy vào vị trí đặt và lực tác động lên từng cấu kiện, làm sao để lực tác động lên toàn bộ công trình được phân tán đều và không cần phải phụ thuộc vào một điểm duy nhất. Nhờ vậy mà nhiều công trình kiến trúc gỗ truyền thống tại Nhật vẫn có thể đứng vững qua những cơn rung chấn hay động đất.
Xem thêm: Kigumi: Nghệ thuật trong những mối ghép “vô hình” của người Nhật
Bên cạnh đó, vào mùa hè, Nhật Bản thường xuyên đón những trận mưa lớn và bão lũ khiến cho đinh vít kim loại thường bị rỉ sét, khiến gỗ dễ bị mục và khó sửa chữa. Những mối nối ghép kiểu Kigumi lại có thể giãn nở đồng đều theo điều kiện thời tiết và khí hậu nên cấu trúc cũng bền chắc hơn.
Học cách lựa chọn và xử lý từng loại gỗ
Nhật Bản có rất nhiều loại gỗ được dùng để xây dựng các công trình kiến trúc truyền thống, như gỗ cây bách (Hinoki), gỗ tuyết tùng (Sugi), gỗ thông liễu (Karamatsu) hay gỗ cây linh sam (Todomatsu). Mỗi loại đều có đặc tính khác nhau nên người thợ mộc Miyadaiku phải học cách “hiểu” từng loại gỗ và lựa chọn loại gỗ phù hợp tùy theo mục đích sử dụng.
Ngoài ra, gỗ mới khai thác cũng “ngậm” một lượng lớn nước trong đó. Nếu được đưa vào gia công khi chưa được làm khô đúng cách, gỗ có thể bị co ngót, nứt hoặc biến dạng. Vì vậy, người thợ phải nắm được quá trình khô của gỗ và biết khi nào nên đưa gỗ vào sử dụng.
Nghệ nhân mộc bậc thầy Nishioka Tsunekazu (1908-1995), người dẫn đầu quá trình trùng tu chùa Horyu-ji và Yakushi-ji, đã mô tả công việc của thợ mộc Miyadaiku là “lắng nghe gỗ” và hiểu đặc tính riêng của từng thanh gỗ.
Ông dạy cho các học trò của mình rằng “một thanh gỗ lấy từ phía nam của một cái cây, thì nên được đặt ở phía nam của tòa nhà. Gỗ ghi nhớ hướng của nó, và việc tôn trọng “ký ức” đó sẽ giúp gỗ hòa hợp với công trình mà nó xây nên.”
Giữ lòng tôn kính đối với rừng và cây cối
Trong văn hóa Nhật Bản, người ta tin rằng thần linh (kami) hiện diện trong cây cối, núi non, sông ngòi và thế giới tự nhiên. Vì vậy, những người thợ mộc Miyadaiku cũng hình thành mối liên kết đặc biệt với từng thanh gỗ, từng cái cây mà họ sử dụng.
Từ việc lựa chọn cây, xử lý gỗ cho đến khi chế tác - từng nhát đục, từng mối nối đều được thực hiện với sự tỉ mỉ và tập trung cao độ như một cách thể hiện sự tôn trọng đối với gỗ. Thậm chí, một số người thợ còn thực hiện nghi thức thanh tẩy trước khi bắt đầu công việc.
Một thợ cả của Kongo Gumi - ông Kiuchi Shigeo cho biết ở xưởng mộc có một tấm biển ghi chữ "Nam mô A Di Đà Phật", được ghép từ hình ảnh các công cụ của thợ mộc.
"Chặt cây được xem là sát sinh, nên câu niệm Phật này là để cầu mong công trình xây dựng được diễn ra an toàn và suôn sẻ," ông Kiuchi chia sẻ. Ngoài ra, đây còn là lời nhắc nhở thợ mộc phải có lòng biết ơn đối với cây cối.
Xây dựng những ngôi đền chùa trường tồn ngàn năm
Điều làm nên sự đặc biệt của một thợ mộc Miyadaiku bậc thầy chính là khả năng thiết kế cho tương lai. Ngay từ khi xây dựng, người thợ không chỉ phải tính toán làm sao để công trình tồn tại lâu dài mà còn phải nghĩ đến việc sửa chữa nó như thế nào trong tương lai.
Minh chứng rõ nét nhất là quần thể chùa cổ Horyuji tại tỉnh Nara, được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Ngôi chùa này được xây dựng bằng gỗ bách Hinoki từ thời Asuka và đến nay đã hơn 1.400 năm tuổi.
Nhờ hệ thống ghép nối gỗ Kigumi phức tạp, người ta có thể tách riêng ra sửa chữa và thay thế những phần bị xuống cấp mà không cần phải phá bỏ toàn bộ công trình, giúp bảo tồn phần lớn những cấu kiện nguyên bản của công trình này.
Tiếp nối tinh hoa nghề mộc Miyadaiku
Trước đây, Nhật Bản đã từng có hàng nghìn thợ mộc được công nhận là Miyadaiku trên khắp cả nước. Nhưng ngày nay, khi bê tông, thép và các công nghệ xây dựng hiện đại đã trở thành một phần quen thuộc trong kiến trúc Nhật Bản, số lượng người theo nghề ngày càng giảm dần. Những năm gần đây, ước tính số lượng người kế thừa nghề mộc Miyadaiku chỉ còn chưa đến 1.000 người.
Dù vậy, các thế hệ Miyadaiku ngày nay vẫn đang miệt mài xây dựng, phục hồi những ngôi đền thờ, chùa chiền để gìn giữ và truyền thừa những tinh hoa nghề mộc truyền thống Nhật Bản đến thế hệ mai sau.
Mỗi lần một Miyadaiku sửa chữa một ngôi chùa hàng trăm năm tuổi cũng là lúc họ đang “đối thoại” với những người thợ đã xây dựng công trình này từ nhiều thế kỷ trước. Và cứ thế, qua từng thế hệ Miyadaiku, những kỹ thuật tưởng chừng đã thuộc về quá khứ vẫn được gìn giữ qua từng mối nối hay từng vết đục mà họ để lại, tiếp tục định hình cảnh quan đền chùa Nhật Bản qua hàng nghìn năm sau.
Còn rất nhiều câu chuyện hay về nghề mộc truyền thống của xứ Phù Tang, mời bạn đón đọc những bài viết tiếp theo trong Chuyên đề tháng 8 của Kilala nhé!
kilala.vn
Đăng nhập tài khoản để bình luận