NỘI DUNG BÀI VIẾT

    Somemono: Nghìn năm nghệ thuật nhuộm vải Nhật Bản

    Somemono: Nghìn năm nghệ thuật nhuộm vải Nhật Bản

    Nhắc đến vải nhuộm Nhật Bản (somemono - 染め物), hẳn bạn đã từng nghe qua vài cái tên như “nhuộm chàm Aizome”, “nhuộm buộc Shibori” hay “nhuộm hoa văn Yuzen” gắn liền với những chiếc kimono rực rỡ. Nhưng đó mới chỉ là một góc nhỏ trong kho tàng nghệ thuật nhuộm vải truyền thống của Nhật Bản, đã được gìn giữ và phát triển qua hơn một ngàn năm lịch sử. 

    Lịch sử nghề nhuộm tại Nhật Bản

    Các kỹ thuật nhuộm đầu tiên đã xuất hiện tại Nhật Bản từ thời Jomon (khoảng 10.000 năm TCN). Khi đó, họ nhuộm vải bằng cách chà xát hoa, thực vật và bùn đất lên vải. Cho đến thời kỳ Nara (710 - 794), nhiều kỹ thuật nhuộm tiên tiến với hoa văn phức tạp đã được du nhập vào Nhật Bản, thông qua quá trình giao thương và tiếp thu các kỹ thuật từ Trung Hoa, bán đảo Triều Tiên, Ấn Độ cùng nhiều khu vực khác trên Con đường Tơ lụa. 

    Khi ấy, 3 kỹ thuật nhuộm hoa văn phổ biến nhất tại Nhật Bản là Tenpyo no Sankechi (天平の三纈). Trong đó, từ “kechi - 纈” dùng để chỉ phương pháp nhuộm kháng, tức là ngăn không cho thuốc nhuộm thấm vào những phần nhất định trên tấm vải, tạo nên những nét hoa văn độc đáo trên nền màu nhuộm, gồm:

    tenpyo no sankechi

    • Koketsu (纐纈) - Nhuộm buộc: Trong đó những phần của vải được buộc chặt, khâu hoặc thắt lại bằng chỉ trước khi nhuộm để tạo hoa văn. Đây là tiền thân của phương pháp nhuộm Shibori nổi tiếng thế giới ngày nay. 
    • Kyokechi (夾纈) - Nhuộm kẹp: Tấm vải được kẹp chặt giữa hai tấm gỗ có chạm khắc họa tiết rồi mang đi nhuộm. Những chỗ được kẹp chặt sẽ không thấm màu nhuộm, tạo nên hoa văn cho tấm vải. 
    • Rokechi (臈纈) - Nhuộm sáp: Tạo hoa văn bằng cách dùng sáp vẽ hoạ tiết lên vải trước khi nhuộm. Những chỗ được vẽ sáp sẽ không thấm màu nhuộm. Phương pháp này là tiền thân của các kỹ thuật nhuộm chống loang ngày nay như nhuộm Yuzen, nhuộm hồ gạo Tsutsugaki hay nhuộm khuôn Katazome. 

    Trải qua các thời kỳ lịch sử, cùng với sự phát triển của văn hóa trang phục và nghề dệt, những kỹ thuật nhuộm vải truyền thống của Nhật cũng ngày càng trở nên đa dạng. Nhất là vào thời Edo (1603-1868), khi các đô thị và văn hóa thị dân bùng nổ mạnh mẽ, nhu cầu về vải nhuộm hoa văn ngày càng gia tăng. Kéo theo đó, nhiều làng nghề nhuộm cũng ra đời và phát triển thành vô số trường phái nghệ thuật nhuộm vải mang bản sắc riêng, được kế thừa qua nhiều thế hệ nghệ nhân và trở thành một phần di sản thủ công Nhật Bản.

    Một số nghệ thuật nhuộm truyền thống nổi tiếng 

    Nghệ thuật nhuộm chàm Aizome - 藍染 (Tokushima)

    Nhắc đến nghệ thuật nhuộm truyền thống của Nhật, không thể không nhắc đến Aizome (藍染め) - nghệ thuật nhuộm chàm tạo nên “sắc xanh Nhật Bản”, được thế giới biết đến với cái tên “Japan Blue”.

    Điểm đặc biệt của Aizome nằm ở công đoạn làm thuốc nhuộm từ lá cây chàm. Trong đó lá chàm trải qua nhiều bước phơi khô và lên men trong khoảng 100 ngày để cho ra bột chàm (sukumo). Sau đó, các thợ nhuộm Someshi tiếp tục dùng bột chàm lên men trong chất kiềm để tạo ra nước nhuộm. 

    nhuộm chàm
    Ảnh: toptenjp.com

    Rồi, vải được nhúng nhiều lần vào nước nhuộm, đưa ra tiếp xúc với không khí nhiều lần để lên màu. Quá trình này càng lặp đi lặp lại nhiều lần, sắc xanh chàm càng đậm hơn, từ xanh nhạt chuyển dần sang xanh lam đạm và gần như đen tuyền. 

    những sắc màu chàm
    Càng nhuộm nhiều lần, màu xanh sẽ càng đậm. Ảnh: japanobjects.com

    Kỹ thuật nhuộm chàm đã có lịch sử hơn 1.000 năm tại Nhật. Trong đó, Tokushima được mệnh danh là quê hương của sắc xanh Nhật Bản, một trong những vùng sản xuất nguyên liệu nhuộm chàm nổi tiếng nhất nước. 

    Xem thêm: Tokushima - Quê hương của “sắc xanh Nhật Bản”

    Thời gian gần đây, thế giới đang chứng kiến sự phục sinh mạnh mẽ của nghệ thuật nhuộm chàm, trong đó có nhiều làng nhuộm ở vùng cao Tây Bắc Việt Nam như Sapa, Lào Cai. Từ đó cũng hình thành những mối giao thoa thú vị với các nghệ nhân chàm Nhật Bản. 

    Tại Hà Nội, Indigo Store là một thương hiệu đồ thủ công nhuộm chàm được thành lập từ năm 2000, bởi đôi vợ chồng Việt - Nhật là chị Dương Thị Thanh, một nghệ nhân chàm lớn lên ở Sapa và anh Takeshi Yoshizawa - một nghệ nhân nhuộm Shibori người Nhật. Xuất phát từ mong muốn gìn giữ kỹ thuật dệt nhuộm truyền thống của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam, cặp đôi đã hợp tác với các nghệ nhân địa phương để phát triển những sản phẩm vải nhuộm chàm, trang phục và phụ kiện thủ công. 

    indigo store
    Anh Takeshi Yoshizawa và chị Dương Thị Thanh (ở giữa phía sau), founder của Indigo Store - một thương hiệu đồ thủ công nhuộm chàm hợp tác với các làng nghề nhuộm chàm ở vùng cao Tây Bắc Việt Nam. Ảnh: Indigo Store

    Đặc biệt, Indigo Store còn thường xuyên tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhuộm chàm, nhằm giới thiệu kỹ thuật nhuộm thủ công cùng những giá trị văn hóa gắn liền với trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam. 

    Nghệ thuật “nhuộm buộc” Shibori - 絞り (Aichi)

    Shibori (絞り) là kỹ thuật nhuộm tạo hoa văn bằng cách buộc, khâu, gấp, xoắn hoặc ép vải để ngăn không cho thuốc nhuộm thấm vào những vị trí nhất định. Sau khi nhuộm, những phần vải được buộc sẽ không bị thấm màu, bề mặt vải sẽ hiện ra những hoa văn độc đáo, từ những chấm tròn nhỏ, đường kẻ sọc đơn giản cho đến những họa tiết hình học phức tạp. 

    shibori
    Nhuộm buộc Shibori. Ảnh: otherprojections

    Trong số các làng nhuộm Shibori nổi tiếng tại Nhật Bản, tiêu biểu nhất phải kể đến thị trấn Arimatsu, thành phố Nagoya, tỉnh Aichi. Nơi đây đã phát triển và lưu truyền kỹ thuật Arimatsu-Narumi Shibori, nổi tiếng với hơn 100 biến thể buộc vải như Kumo-shibori (kiểu mây), Arashi-shibori (kiểu bão), Yuki-shibori (kiểu tuyết), và chỉ có thể thực hiện thủ công nếu muốn tạo ra bố cục như ý. 

    vai-nhuom-bang-ky-thuat-Arimatsu-Narumi-Shibori
    Những hoa văn đầy ấn tượng của đồ nhuộm Arimatsu-Narumi Shibori. Ảnh: nagoya-info.jp

    Ngày nay, đồ nhuộm Arimatsu-Narumi Shibori vẫn luôn nhận được sự tán thưởng từ khắp nơi trên thế giới. Không chỉ vậy, nghệ thuật nhuộm Shibori nói chung cũng trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế đương đại, được ứng dụng mạnh mẽ trong làng thời trang quốc tế như khăn choàng, áo, túi xách và nhiều sản phẩm thời trang khác. 

    Nghệ thuật “nhuộm hoa” Yuzen (友禅) trên vải kimono 

    Nghệ thuật nhuộm vải Yuzen ra đời từ bàn tay của Miyazaki Yuzensai - một nghệ nhân vẽ quạt nổi tiếng tại Kyoto vào cuối thế kỷ 17. Trong đó, mỗi tấm vải nhuộm Yuzen là một bức tranh đầy màu sắc, có thể là vẽ tay hoặc in khuôn, với các nét họa tiết hay hoa văn mang đậm những nét mỹ cảm đặc trưng của xứ Phù Tang. 

    nhuộm yuzen
    Ảnh: kaname-inn.com

    Với kỹ thuật Yuzen vẽ tay truyền thống, người nghệ nhân sẽ phác thảo hoa văn lên vải trắng, sau đó dùng một loại hồ gạo đặc biệt được gọi là itome để tạo đường viền ngăn các vùng màu loang vào nhau. Rồi người nghệ nhân bắt đầu “điểm màu” cho những chi tiết như hoa lá, chim muông và phong cảnh, sau đó mang vải đi hấp, giặt và xử lý hoàn thiện. 

    Từ nền tảng kỹ thuật chung này, nghệ thuật nhuộm Yuzen tại Nhật đã phát triển thành 3 phong cách tiêu biểu, phản ánh thị hiếu thẩm mỹ đặc trưng của từng vùng đất. 

    Kyo-Yuzen - Vẻ đẹp rực rỡ của Kyoto

    Vải nhuộm Kyo-Yuzen (京友禅) nổi tiếng với những thiết kế cầu kỳ, màu sắc phong phú cùng hoa văn lấy cảm hứng từ cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa hoặc các biểu tượng ngụ ý cát tường. Bên cạnh công đoạn nhuộm, các bộ kimono Kyo-Yuzen còn có thể được trang trí bằng chỉ thêu, lá vàng hoặc lá bạc, tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và sang trọng nên thường được dùng làm lễ phục cho những dịp trọng đại như lễ trưởng thành hoặc lễ cưới.

    kyo yuzen

    Kaga-Yuzen - Vẻ đẹp thanh thoát của thiên nhiên Kanazawa

    Khác biệt hẳn so với vẻ rực rỡ của Kyo-Yuzen, phong cách nhuộm Kaga-Yuzen (加賀友禅) tại Kanazawa lại mang một vẻ đẹp thanh thoát, trang nhã, chú trọng tái hiện vẻ mềm mại và tràn đầy sức sống của thiên nhiên lên vải. Vì vậy, Kaga-Yuzen rất ít sử dụng những chi tiết trang trí bằng lá vàng hay thêu chỉ mà chủ yếu tôn lên vẻ đẹp của màu nhuộm. 

    kaga yuzen
    Kaga-Yuzen mang một vẻ đẹp trang nhã, thanh thoát, nhẹ nhàng, đối lập với vẻ rực rỡ của Kyo-Yuzen.

    Kỹ thuật này sử dụng năm màu chủ đạo, được gọi là Kaga Gosai (加賀五彩), gồm xanh chàm, đỏ thẫm, vàng đất, xanh lục đậm và tím. Những màu sắc này thiên về tông màu nhẹ nhàng, không quá sặc sỡ hay chói sáng. Các họa tiết hoa lá được thể hiện tỉ mỉ, đôi khi được điểm thêm những chấm Mushi Kui để diễn tả các vết bị côn trùng cắn, kết hợp cùng kỹ thuật chuyển sắc uyển chuyển, mang đến một khu vườn đầy hoa khoe sắc và sống động. 

    kaga yuzen (1)
    Những vết côn trùng cắn Mushi Kui cũng được tái hiện trên vải Kaga Yuzen (trái). Ngoài ra, những nghệ nhân Kaga Yuzen cũng thường sử dụng phương pháp đổ màu chuyển sắc để những đóa hoa thêm phần sống động. Ảnh: Kaga Yuzen Kimono Center

    Edo-Yuzen - Nét thanh lịch của Tokyo

    Edo-Yuzen, ngày nay thường được gọi là Tokyo Tegaki Yuzen, ra đời tại chốn kinh kỳ Edo xưa. So với hai phong cách trên, Edo-Yuzen thường mang vẻ đẹp giản dị và tinh tế hơn, với bảng màu tiết chế, hoa văn thanh lịch, phản ánh thị hiếu thẩm mỹ “Iki” của người dân đô thị Edo.

    edo yuzen
    Dù màu sắc hay họa tiết trông đơn giản, nhưng Edo-Yuzen vẫn phản ánh được sự thanh lịch, trang nhã của nét thẩm mỹ "Iki" thời Edo.

    Katazome (型染め) - Nghệ thuật nhuộm hoa văn bằng khuôn giấy (Mie)

    Một kỹ thuật nhuộm truyền thống khác của Nhật Bản là Katazome (型染め), sử dụng khuôn giấy được chạm khắc hoa văn để tạo họa tiết trên vải. Trong phương pháp này, người thợ sẽ khắc hoa văn lên khuôn giấy trước, đặt khuôn lên bề mặt vải rồi phủ một lớp hồ gạo lên phần hoa văn đã khoét rỗng trên giấy. Sau khi mang vải đi nhuộm rồi rửa sạch lớp hồ, các hoa văn sẽ hiện ra theo thiết kế ban đầu. 

    nhuộm katazome 1
    Ảnh: edit.pref.oita.jp

    Một trong những vùng sản xuất khuôn nhuộm nổi tiếng nhất Nhật Bản là thành phố Suzuka, tỉnh Mie, quê hương của nghệ thuật Ise Katagami (伊勢形紙). 

    Các nghệ nhân Ise Katagami sử dụng một loại giấy đặc biệt được ép từ nhiều lớp giấy dâu tằm, ngâm trong nước lên men từ quả hồng để làm thành những tấm khuôn chống thấm nước và có độ bền cao. Sau đó, họ dùng dao chuyên dụng chạm khắc từng đường nét và họa tiết cực nhỏ, có thể là cả trăm chi tiết trong từng cm2. 

    katazome
    Sau khi phủ hồ theo khuôn giấy và đợi hồ gạo khô lại, người thợ nhuộm sẽ nhuộm cả tấm vải hoặc tô màu nhuộm thủ công. Ảnh: edit.pref.oita.jp

    Những tấm khuôn này được sử dụng trong nhiều kỹ thuật nhuộm khác nhau, đặc biệt là các loại vải có hoa văn lặp lại như Edo Komon, một số loại vải nhuộm Yuzen và dòng vải hoa Ryukyu Bingata của Okinawa, nổi tiếng với những hoa văn rực rỡ lấy cảm hứng từ thiên nhiên và văn hóa Vương quốc Ryukyu.

    Sắc nhuộm truyền thống Nhật Bản từ thiên nhiên 

    Kể từ sau thời Minh Trị (1868 - 1912), nghề nhuộm Nhật Bản chứng kiến sự du nhập ngày càng mạnh mẽ của các loại thuốc nhuộm tổng hợp từ phương Tây, vốn có ưu thế về giá thành, màu sắc và khả năng sản xuất hàng loạt. 

    Dù vậy, các nghệ nhân tại nhiều làng nghề thủ công Nhật Bản vẫn đang gìn giữ những sắc nhuộm truyền thống từ cây cỏ, hoa lá thiên nhiên, được gọi là Kusaki-zome (草木染め) - nhuộm bằng thực vật.

    kusaki-zome
    Ảnh: pristine.jp

    Người thợ sẽ sử dụng các loại nguyên liệu thực vật như hoa, lá, rễ và vỏ cây để chiết xuất màu nhuộm vải. Tùy theo loại nguyên liệu, cách chiết xuất và số lần nhuộm, họ có thể tạo ra nhiều sắc độ khác nhau từ cùng một loài cây. Rồi từ những gam màu cơ bản, người thợ tiếp tục hòa trộn để tạo nên những sắc màu truyền thống của xứ Phù Tang, được gọi là dentoushoku (伝統色).

    Trong số đó, nổi tiếng nhất phải kể đến Ai-iro (藍色), sắc xanh được lấy từ cây chàm tadeai. Mệnh danh là sắc xanh đại diện cho Nhật Bản - “Japan Blue”, có hàng trăm sắc độ của màu chàm trải dài từ xanh nhạt đến đậm, gần như đen, tùy vào số lần nhuộm. 

    những sắc màu truyền thống từ thiên nhiên

    Nổi tiếng không kém là sắc đỏ hồng Beni (紅) chiết xuất từ hoa rum Benibana, sắc đỏ thắm Akane-iro (茜色) từ rễ cây Akane, cùng sắc vàng được chiết xuất từ vỏ cây Kihada (黄檗) hay cỏ Kariyasu (刈安). 

    Những sắc màu truyền thống ấy không chỉ để tô điểm cho vẻ ngoài của trang phục, mà còn phản ánh địa vị trong xã hội Nhật Bản xưa. Như sắc tím Murasaki (紫) được lấy từ cây tía tím shigusa là thứ màu sắc chỉ có tầng lớp quý tộc địa vị cao được dùng. Còn dân thường thì chỉ dược dùng những sắc màu trầm như nâu, xám hay xanh chàm do ảnh hưởng của các quy định hạn chế sự xa hoa của Mạc phủ.  

    murasaki
    Ở Nhật Bản thời xưa, màu tím Murasaki là màu thường chỉ có quý tộc địa vị cao mới được dùng. Ảnh: zaobao.com.sg

    Vì thế, người dân đã tìm cách thể hiện gu thẩm mỹ thông qua những biến thể tinh tế của các gam màu giản dị. 

    Từ những sắc màu đơn điệu, các phường nhuộm Edo xưa đã sáng tạo nên vô số sắc độ khác nhau, được thể hiện qua câu nói “Shijuhatcha Hyakunezumi“ (四十八茶百鼠), nghĩa là “48 sắc trà, 100 màu chuột”. Trong đó, “trà” dùng để chỉ các tông màu nâu như trà, còn “chuột” ám chỉ những sắc xám như màu lông chuột.

    image001-7
    Ảnh minh họa: kimonoichiba.com

    Cách gọi này không chỉ phản ánh sự phong phú của bảng màu truyền thống Nhật Bản mà còn cho thấy óc sáng tạo và kỹ thuật tinh xảo của những người thợ nhuộm, khi có thể biến hóa các gam màu cơ bản thành hàng trăm sắc thái khác nhau. 

    Trải qua hơn một thiên niên kỷ, những kỹ thuật nhuộm thủ công tinh xảo cùng những sắc màu truyền thống ấy đã góp phần tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của nghệ thuật nhuộm vải Nhật Bản, đồng thời phản ánh bản sắc văn hóa và câu chuyện lịch sử của từng vùng đất. Ngày nay, những di sản ấy vẫn đang được các thế hệ nghệ nhân gìn giữ, tiếp nối và phát triển hơn nữa trong các ứng dụng đời sống hiện đại. 

    Trong chuyên đề tháng 11, mời bạn khám phá những câu chuyện về nghệ thuật nhuộm Somemono của xứ Phù Tang nhé! 

    kilala.vn

    Category

    Bình luận không được chứa các ký tự đặc biệt!

    Vui lòng chỉnh sửa lại bình luận của bạn!