Bốn dáng hình của nước hiện diện trong vườn Nhật
Từ những mương nước gắn với nghi lễ cổ xưa, nước dần trở thành một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật vườn Nhật. Không chỉ làm cảnh quan thêm sinh động, nước còn gắn với những quan niệm về phong thuỷ, các thú vui tao nhã của giới quý tộc và cả trải nghiệm âm thanh. Ngay cả trong những khu vườn cảnh khô, hình ảnh của nước vẫn được gợi lên qua những đường vân trên nền sỏi trắng.
Nước trở thành một yếu tố trong vườn Nhật như thế nào?
Cuộc khai quật năm 1991 ở thành phố Iga, tỉnh Mie đã phát hiện di tích Jonokoshi, có niên đại từ thời Kofun (250-538). Đây từng là một khu tế lễ, có một con mương dài, dẫn nước từ ba nguồn chảy về hướng tây bắc, đổ ra sông Kizu. Hai bên bờ mương được lát đá hoặc dựng đá đứng.
Việc đào mương, xếp đá làm bờ và dẫn nước chảy thành dòng uốn lượn cho thấy khu vực này được con người tạo ra với chủ ý phục vụ cho các nghi lễ liên quan đến nước. Vì vậy, một số chuyên gia cho rằng Jonokoshi là tiền đề sinh ra các khu vườn Nhật có ao hồ ở các thời đại sau, điển hình như vườn Shinden-zukuri (một kiểu kiến trúc của dinh thự, cung điện quý tộc) thời Heian (794-1185).
Cũng có ý kiến cho rằng vườn Asukakyo là khu vườn cổ nhất và có quy mô lớn đầu tiên tại Nhật Bản, được xây dựng từ giữa đến cuối thế kỷ 7, cạnh cung điện của Thiên hoàng Saimei để làm nơi tiếp khách. Các chuyên gia từng đưa ra giả thuyết rằng khu vườn này chủ yếu dùng để thưởng ngoạn cảnh đẹp, nhưng sau khi phát hiện dấu tích của một hệ thống dẫn nước, nhận định trên đã thay đổi.
Khu vườn gồm hai ao nhân tạo, một ở phía nam và một ở phía bắc. Hệ thống dẫn nước được khai quật ở gần ao phía bắc, nơi được cho là có một mạch nước suối tự nhiên nằm dưới mặt đất. Nước chảy ra rồi đi theo một con mương rộng khoảng 30-80cm, dài 11.5m, hai bên lát đá khối. Các nhà khảo cổ cho rằng hệ thống này có liên hệ chặt chẽ với các nghi lễ dùng nước để thanh tẩy.
Từ thế kỷ 8 trở đi, vườn Nhật với điểm nhấn là ao hồ trở thành biểu tượng của địa vị. Triều đình, giới quý tộc bắt đầu đổ xô xây những khu vườn ao đầy ấn tượng, lấy cảm hứng từ cảnh bờ biển đẹp tuyệt mỹ trải dài khắp Nhật Bản.
Vườn ao không chỉ là biểu tượng của quyền lực mà còn giúp lãnh chúa bảo vệ nguồn nước, đóng vai trò như công cụ chống ngập khi gặp bão tố. Ngoài ra, các hoạt động như thưởng ngoạn cảnh đẹp trên ao hồ bằng thuyền rồng cũng đặc biệt được yêu thích.
Thời nay, các khu vườn Nhật vẫn giữ gìn hình ảnh của nước dưới nhiều trạng thái khác nhau. Điển hình như phối cảnh vườn cùng sự chuyển động của các dòng suối nhân tạo, xây ao hồ trong vắt và tĩnh lặng hoặc bài trí những vật như Suikinkutsu để tạo âm vang sống động. Trong trường hợp không thể dẫn nước vào vườn vì lý do địa lý, yếu tố nước vẫn không bị loại bỏ mà tái sinh dưới hình dạng là những đường kẻ trên cát trắng.
Các yếu tố nước trong phối cảnh vườn Nhật
Suối
Yarimizu (遣水 - KHIỂN THỦY) là dòng suối nhân tạo, một trong những yếu tố quan trọng trong thiết kế vườn Nhật. Dòng suối thường nông, khi chảy qua nền sỏi sẽ tạo thành tiếng róc rách vui tai.
Trong thời Heian (794-1185), Kyokusui no En (曲水の宴 - KHÚC THỦY YẾN) là một hoạt động phổ biến trong giới quý tộc, được tổ chức vào tháng 3 hàng năm. Những người tham dự sẽ ngồi dọc bờ suối, ngâm thơ trong khi những chén sake (rượu Nhật) sẽ được thả xuôi theo dòng nước. Hoạt động này được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản thông qua Hàn Quốc.
Suối còn được bố trí chảy uốn lượn quanh khu vườn, đôi khi chảy dưới nhà hoặc dưới những cây cầu nối các khu vực và công trình với nhau. Cách bố trí này giúp tạo thêm những góc nhìn mới để ngắm dòng nước chảy.
Suối chảy dưới nhà còn được cho là sẽ cuốn đi nguồn năng lượng xấu, nên trong trường hợp này nước còn mang vai trò thanh tẩy. Sakuteiki (作庭記 - TÁC ĐÌNH KÝ) - sách “Ghi chép về Nghệ thuật làm vườn” biên soạn vào giữa đến cuối thế kỷ 11, có những chỉ dẫn về cách bố trí dòng chảy dựa trên nguyên tắc phong thủy. Để thanh tẩy không gian sống, nước cần bắt đầu chảy từ phía đông bắc, đi qua bên dưới một góc của tòa nhà chính rồi hướng về phía tây nam.
Trong Sakuteiki cũng đề cập rằng có thể dùng đá để định hướng và điều chỉnh lực của dòng chảy, tiêu biểu là Meguri-ishi (廻石 - HỒI THẠCH). Tùy theo kích thước, hình dạng và vị trí, nếu đặt Meguri-ishi ngay sau một khúc quanh, dòng chảy có thể đổi hướng theo mong muốn của người thiết kế vườn.
Nếu muốn tạo các dòng chảy phân nhánh sang trái hoặc phải, có thể đặt đá Mizukiri-ishi (水切石 - THỦY THIẾT THẠCH) dưới lòng suối. Còn có Mizukoshi-ishi (水越石 - THỦY VIỆT THẠCH) - những phiến đá phẳng cho phép nước chảy vòng qua hoặc tràn đều lên trên bề mặt đá khi lưu lượng đủ lớn để tạo thành một màn nước mỏng.
Yarimizu được thiết kế linh hoạt, thay đổi tùy theo quy mô và mục đích của vườn. Ở những khu vườn rộng lớn của lãnh chúa phong kiến, các con suối thường dài, uốn lượn và trông gần như một con sông ngoài tự nhiên. Còn ở những khu vườn nhỏ hơn như vườn trà Chaniwa (茶庭 - TRÀ ĐÌNH), suối thường nhỏ và hẹp.
Ngày nay, trong những trường hợp dẫn nước từ mạch nước tự nhiên không còn khả thi hoặc không phù hợp, máy bơm và hệ thống lọc có thể được áp dụng để tạo dòng chảy luân chuyển trong vườn.
Ao hồ
Ao hồ là một trong những yếu tố thường thấy trong thiết kế vườn Nhật. Trong một số trường hợp, ao hồ còn được lấy làm điểm trung tâm để các kiến trúc sư xây dựng cảnh quan xoay quanh nó.
Kể từ khi ý tưởng làm vườn cảnh được du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc, ao hồ đã được chú trọng không chỉ với vai trò trang trí mà còn là nơi diễn ra các nghi thức cung đình và sự kiện giải trí.
Vườn Nhật của gia đình quý tộc trong thời Nara (710-794) và Heian (794-1185) thường xây ao hồ nằm ở phía nam dinh thự. Sau đó, nước được dẫn từ một dòng suối chảy vào từ hướng đông bắc theo quan niệm phong thủy. Ngoài ra, vì ao hồ được cho là nơi tích tụ “khí” (Qi), loại sinh lực nằm trong mọi sinh vật sống theo văn hóa Trung Quốc và có xu hướng thoát đi theo đường thẳng nên các kiến trúc sư thường xây bờ theo hình uốn lượn, quanh co để giữ “khí”.
Cũng trong thời Heian (794-1185), giới quý tộc thường du ngoạn trên những chiếc thuyền có mũi chạm trổ hình rồng, bao quanh là một số thuyền phụ khác chở theo dàn nhạc công trên những hồ nước rộng lớn. Đến thời Edo (1603-1868), hoạt động này càng trở nên phổ biến tại các khu vườn thuộc sở hữu của lãnh chúa phong kiến.
Sức hấp dẫn của các hồ lớn còn đến từ hình ảnh phản chiếu trên mặt nước tĩnh lặng, tạo nên một phong cảnh tuyệt đẹp như trong tranh vẽ. Điển hình là hồ Kyoko-chi (鏡湖池 - KÍNH HỒ TRÌ), có tên mang nghĩa là “ao gương” ở chùa Kinkaku-ji tại Kyoto.
Suikinkutsu
Ngoài suối và ao hồ, nước còn có một vai trò thú vị khác là “tạo âm”. Không chỉ riêng tiếng róc rách khi lướt đi trên nền sỏi, mà qua vật bài trí Suikinkutsu (水琴窟 - THỦY CẦM QUẬT), thanh âm của nước có thể trở nên trong trẻo và vang vọng hơn.
Suikinkutsu có cấu trúc bao gồm một chiếc chum bằng gốm hoặc đất nung, đem úp ngược và chôn dưới lòng đất, bên trong có chứa ít nước. Khi nước chảy vào lỗ hở ở đáy chum, từng giọt một sẽ nhỏ xuống mặt nước nông bên dưới, tạo ra âm thanh tí tách vang vọng nhịp nhàng. Phần lòng chum rỗng đóng vai trò như một bộ khuếch đại âm thanh tự nhiên, làm tiếng nhỏ giọt rõ và to hơn khi truyền lên mặt đất.
Bên trên Suikinkutsu thường bố trí một Tsukubai (蹲踞 - TỒN CỨ) - chậu đá thấp dùng để rửa tay và súc miệng trong nghi thức thanh tẩy. Phần nước tràn khỏi chậu sẽ thấm qua lớp sỏi đá bên dưới rồi chảy đến chiếc chum Suikinkutsu được úp ngược và chôn trong lòng đất. Trên đáy chum có một lỗ nhỏ để nước nhỏ từng giọt xuống phần nước đọng bên trong. Âm thanh của những giọt nước khi chạm mặt nước sẽ vang trong khoang chum, tạo nên tiếng ngân trong trẻo đặc trưng.
Karesansui
Vườn Karesansui (枯山水 - KHÔ SƠN THỦY), còn được gọi là vườn cảnh khô hay vườn thiền, chỉ dùng đá, cát để tượng trưng cho đảo, núi và nước, đôi khi kết hợp với rêu, cây cối để hoàn thiện. Để gợi hình ảnh dòng nước uốn lượn, người ta dùng một chiếc cào gỗ để vẽ nên các đường kẻ trên cát và sỏi trắng.
Những đường kẻ san sát đại diện cho dòng nước chảy xiết, những đường kẻ rộng gợi mặt nước tĩnh lặng, trong khi các đường xoắn ốc cào quanh một hòn đá thể hiện dòng chảy khi gặp phải vật cản. Kỹ thuật cào cát này được gọi là Samon (砂紋- SA VĂN), giúp đưa yếu tố nước vào khu vườn mà không cần sông hay ao hồ.
Ý tưởng làm vườn cảnh khô bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ 11, là giải pháp thay thế cho những địa điểm khó dẫn nước vào khuôn viên. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 14-15, chúng mới dần phổ biến trong những tu viện Thiền tông nằm biệt lập giữa núi rừng. Trong đó, vườn cảnh khô nổi tiếng ngày nay được cho là được hình thành tại các ngôi chùa thiền ở Kyoto trong thời kỳ Muromachi (1336-1573).
Ngày nay, vẻ đẹp của vườn cảnh khô đã lan rộng ra toàn thế giới, tạo nên một không gian lý tưởng cho việc tĩnh tọa giữa xã hội xô bồ.
Kết
Nước song hành với sự phát triển của vườn Nhật từ thuở sơ khai, bắt đầu từ những khu tế lễ rồi dần trở thành một phần quan trọng trong hoạt động thưởng ngoạn cảnh đẹp của giới quý tộc. Cho đến nay, dù ở trạng thái nào đi chăng nữa, yếu tố nước vẫn luôn hiện diện trong hầu hết các khu vườn Nhật, tô điểm thêm cho vẻ đẹp thanh tịnh của chúng.
Trong Chuyên đề tháng 10, Kilala sẽ còn bật mí thêm nhiều câu chuyện thú vị về “nền văn hóa nước” của Nhật Bản. Bạn hãy đón đọc các bài viết tiếp theo tại đây nhé!
kilala.vn
Đăng nhập tài khoản để bình luận