Cá vàng Nhật Bản: Biểu tượng mùa hè mang nét mỹ cảm của xứ Phù Tang
0%
Bài: Kim Hoàng • Thiết kế: J
Ánh mặt trời chói chang, những đám mây tích trắng xóa, những tia nắng len qua tán lá rọi xuống thềm đất thành những vệt sáng tròn, đó là khung cảnh đặc trưng của mùa hè Nhật Bản. Giữa cái oi ả ấy, hình ảnh đàn cá vàng thong dong bơi lượn trong làn nước mát trong veo luôn gợi về một cảm giác mát lành khó tả. Với chiếc đuôi mềm mại uyển chuyển theo từng gợn sóng, những chú cá vàng từ lâu đã trở thành biểu tượng của mùa hè, của sự may mắn và còn phản ánh một nét mỹ cảm rất riêng của văn hóa Nhật Bản.
Len lỏi vào đời sống người Nhật từ thời Edo
Nhiều tài liệu cổ ghi chép rằng, những chú cá vàng đầu tiên được các thương nhân Trung Hoa đưa đến Nhật Bản từ khoảng 500 năm trước, vào cuối thời kỳ Muromachi (1333-1568). Ban đầu, chúng là loài vật vô cùng quý hiếm và đắt đỏ, chỉ giới quý tộc, tầng lớp võ sĩ cấp cao hay các thương nhân giàu có mới có điều kiện nuôi làm cảnh.
Ban đầu, người Nhật gọi cá vàng là kogane-uo (こがねうを, nghĩa là "cá vàng óng"), sau này mới đổi sang gọi là Kingyo (金魚 - KIM NGƯ) như ngày nay. Ảnh: Umezono Gyohinzusho, Thư viện Quốc hội Nhật Bản
Cho đến thời Edo (1603-1868), một số samurai bắt đầu nhân giống cá vàng để bán nhằm kiếm thêm thu nhập. Vì vậy mà giá của chúng cũng trở nên rẻ hơn và dễ tiếp cận với mọi tầng lớp dân chúng. Từ đó cá vàng dần trở thành vật nuôi phổ biến trong các gia đình, rồi nhanh chóng phát triển thành một trào lưu.
Những người bán cá vàng dạo (Kingyo-uri) thời Edo. Ảnh: Thư viện Quốc hội Nhật Bản
Khi ấy, trào lưu nuôi cá vàng phổ biến đến mức đường phố thành Edo luôn vang vọng tiếng rao của những người bán hàng rong, trên vai mang theo đôi quang gánh đựng những xô đầy cá vàng. Còn quyển sách hướng dẫn nuôi cá vàng Kingyo Sodate-gusa (金魚養玩草) đã trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất thời bấy giờ.
Kingyo Sodate-gusa là một quyển sách hướng dẫn nuôi cá vàng được xuất bản vào thời Edo. Tác giả quyển sách là Adachi Kishi đến từ Sakai, Osaka. Ảnh: Printing Museum Tokyo
Uwami - góc nhìn hoàn hảo nhất để ngắm cá vàng
Vào thời Edo, người ta không nuôi cá vàng trong những bể kính to như ngày nay mà để chúng trong những chiếc bình thủy tinh nhỏ được gọi là kingyo-dama (金魚玉) rồi treo trước mái hiên nhà. Vào mùa hè, ánh nắng xuyên qua làn nước đong đưa trong những chiếc bình thủy tinh nhỏ dưới mái hiên, rọi bóng những chú cá vàng đang bơi lượn xuống sàn tatami, mang đến cho cả không gian cảm giác mát mẻ tựa như đang ở trên mặt hồ gợn sóng.
Những chiếc bình thủy tinh nhỏ dùng để nuôi cá vàng được gọi là kingyo-dama, thường được treo trước hiên nhà. Ảnh: ndl.go.jp
Ngoài ra, người dân thời Edo còn chuộng nuôi cá vàng trong các chậu lớn bằng gỗ, gốm hoặc sơn mài. Khi này, cá vàng được ngắm với góc nhìn từ trên cao xuống, được gọi là góc nhìn uwami (上見). Đây cũng được xem là góc ngắm cá vàng hoàn hảo nhất, được người Nhật yêu thích cho đến tận ngày nay.
Tranh ukiyo-e thời Edo mô tả những người đang ngắm cá vàng trong chậu sứ qua góc nhìn Uwami. Ảnh: Atsumaken Shimitate Gosekku, Utagawa Kunisada (1855).
Ở góc nhìn ấy, người ta có thể chiêm ngưỡng rõ nét từng mảng màu sắc trên thân cá cùng đôi vây và chiếc đuôi mềm mại uốn lượn trong làn nước. Khi chú cá vàng nhẹ nhàng lướt qua, những gợn sóng loang nhẹ khiến cả thân mình cá uyển chuyển như đang múa, vừa sống động, lại vừa mang một vẻ đẹp rất thanh nhã, tĩnh lặng khi hòa hợp với cảnh quan thủy sinh xung quanh.
Vì vậy mà trong lịch sử lai tạo cá vàng, người Nhật chú trọng tạo ra những giống cá có dáng hình rất đẹp khi nhìn từ trên xuống. Những chú cá vàng có vây và đuôi dài, mềm mại, dáng hình tròn đầy và dáng bơi uyển chuyển, mang nét đẹp mong manh, phù du và thanh nhã, đậm nét mỹ cảm ukiyo thời Edo.
Nhật Bản cũng tạo nên những “báu vật” của giới cá vàng
Ngày nay, trên thế giới có hơn 100 giống cá vàng khác nhau. Trong đó có nhiều giống có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng rất nổi tiếng ở Nhật Bản như Wakin - giống cá vàng phổ biến trong trò chơi vớt cá vàng Kingyo-sukui; giống Ryukin với phần lưng gù cao và bộ vây dài mềm mại; giống cá vàng mắt lồi Demekin hay giống Oranda Shishigashira đặc trưng bởi phần đầu nổi u giống đầu lân sư.
Một số giống cá vàng phổ biến được người Nhật ưa chuộng.
Không chỉ tiếp nhận các giống cá nước ngoài, Nhật Bản còn lai tạo thành công khoảng 30 giống cá vàng riêng, nhiều giống trong số đó được xem là niềm tự hào của ngành nuôi cá cảnh nước này.
Tiêu biểu là giống cá Osaka Ranchu, giống cá không có vây lưng, phần đầu nổi u và có túi thịt nhỏ hai bên mũi trông như ria mép. Sau năm 1945, giống cá này gần như tuyệt chủng nhưng sau đó đã được phục hồi nhờ các chương trình nhân giống.
Giống cá vàng Osaka Ranchu. Ảnh: Rakuten
Một giống nổi tiếng khác được người yêu cá vàng trên khắp thế giới săn đón là Tosakin. Đây là giống cá vàng cao cấp của tỉnh Kochi, xuất hiện từ cuối thời Edo, được cho là phép lai giữa các giống Ranchu và giống vây dài Ryukin. Vì vậy mà giống cá Tosakin sở hữu chiếc vây đuôi cực lớn, xòe rộng như chiếc quạt và mềm mại uốn lượn về phía trước.
Cá vàng Tosakin. Ảnh: Nippon
Giống cá vàng Tosakin cùng với giống Jikin của tỉnh Aichi và Nankin của tỉnh Shimane hiện được công nhận là Di sản tự nhiên cấp tỉnh tại Nhật Bản.
Ngoài ra, cá vàng Nhật Bản còn nổi tiếng với các giống lai nhiều màu sắc như Shubunkin, nổi bật bởi các mảng màu đỏ, trắng, đen và asagi (xanh lam nhạt) cùng bộ vây dài thanh thoát. Còn giống Edo Nishiki lại sở hữu thân hình tròn trịa, vây ngắn và những mảng màu loang độc đáo, tạo nên vẻ ngoài rất riêng.
Hai giống cá vàng Shubukin (trái) và Edo Nishiki (phải) nổi bật bởi những mảng màu loang độc đáo.
Cá vàng trong văn hóa và đời sống tinh thần của người Nhật
Biểu tượng của mùa hè
Cùng với hoa asagao và chuông gió fuurin, cá vàng là một trong những biểu tượng đại diện cho mùa hè Nhật Bản. Mỗi khi hè đến, hình ảnh cá vàng lại xuất hiện trên khắp xứ Phù Tang, hiện diện trên những chiếc quạt uchiwa, trang phục, thiệp chúc mùa hè, đèn lồng lễ hội và vô số món đồ lưu niệm. Không chỉ vậy, tại các quán cà phê hay cửa hàng bánh ngọt, người ta còn khéo léo tạo hình những chiếc bánh wagashi, thạch hay món tráng miệng mang dáng vẻ của những chú cá vàng đang bơi lội, như một cách lưu giữ cảm giác mát lành của mùa hè.
Cá vàng được xem là một trong những biểu tượng đặc trưng của mùa hè, thường xuất hiện trên đồ dùng, vật trang trí lễ hội và cả ẩm thực.
Cá vàng cũng là một trong những “nhân vật chính” của các lễ hội mùa hè Nhật Bản, qua trò chơi truyền thống kingyo-sukui (金魚すくい). Trong đó, người chơi sẽ dùng một chiếc vợt có khung nhựa với lớp giấy cực mỏng và khéo léo vớt càng nhiều cá vàng càng tốt trước khi lớp giấy bị rách. Những chú cá vớt được sẽ trở thành phần thưởng, thường được người chơi mang về nhà nuôi. Với nhiều thế hệ người Nhật, những chú cá vàng ấy đã trở thành một phần ký ức tuổi thơ, gắn liền với những ngày hè rộn ràng thanh âm lễ hội.
Trò vớt cá vàng Kingyo-sukui là biểu tượng quen thuộc tại các lễ hội mùa hè Nhật Bản. Ảnh: radonna.biz
Biểu tượng may mắn và xua đuổi tà khí
Cá vàng còn được xem là biểu tượng của may mắn và điềm lành trong văn hóa Nhật Bản. Tên gọi Kingyo (金魚) của loài cá này vốn có nguồn gốc từ Trung Hoa, mang ý nghĩa dư dả, sung túc. Khi du nhập vào Nhật Bản, người ta vẫn giữ nguyên những quan niệm may mắn này, đồng thời tin rằng màu đỏ của cá vàng có thể xua đuổi tà khí và bệnh tật. Đặc biệt là vào thời Edo, khi bệnh đậu mùa thường xuyên bùng phát, người ta thường tặng trẻ em những món đồ chơi hình cá vàng màu đỏ như một lá bùa may mắn, cầu bình an và xua đuổi dịch bệnh.
Xuất hiện trong thi ca và hội họa Nhật Bản
Khi cá vàng dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống thường nhật, hình ảnh của chúng cũng bước vào thế giới hội họa, văn chương và thi ca Nhật Bản.
Trong hội họa, nhiều danh họa nổi tiếng đã chọn cá vàng làm nguồn cảm hứng sáng tác của mình. Như danh họa Kitagawa Utamaro, bậc thầy của dòng tranh họa mỹ nhân (bijin-ga), đã từng khắc họa hình ảnh những người phụ nữ xinh đẹp ngắm cá vàng trong chiếc bình thủy tinh, như một thú vui tao nhã của tầng lớp thị dân Edo.
Những bức tranh khắc họa mỹ nữ bên cá vàng nổi tiếng của danh họa Kitagawa Utamaro. Ảnh: Thư viện Quốc hội Nhật Bản
Còn danh họa Utagawa Kuniyoshi, bậc thầy vĩ đại của dòng tranh ukiyo-e, đã mang đến một góc nhìn dí dỏm khi nhân hóa những chú cá vàng thành các nhân vật đang ca múa, vui chơi hay sinh hoạt như con người. Cách thể hiện đầy hóm hỉnh ấy đã phản ánh sức sống của văn hóa thị dân thời Edo, đồng thời cho thấy cá vàng đã trở thành hình ảnh gần gũi trong đời sống thường nhật.
Bộ tranh Kingyo-zukushi (金魚づくし) của danh họa Utagawa Kuniyoshi, khắc họa những chú cá vàng với những hành động và cảm xúc như con người một cách đầy vui nhộn. Ảnh: ukio.jp
Trong văn chương, nhà văn Ihara Saikaku, người sáng tạo ra thể loại văn xuôi “thế giới phù du” (ukiyo-zoshi) của văn học Nhật Bản, đã nhiều lần đưa hình ảnh cá vàng vào các tác phẩm như một chi tiết phản ánh chân thực nhịp sống đô thị của thị dân Edo.
Hình ảnh cá vàng cũng là chất liệu quen thuộc của thi ca Nhật Bản. Theo nhiều tài liệu, bài haiku cổ nhất có nhắc đến cá vàng được ghi nhận trong tuyển tập Shinsen Inutsukuba-shu (新撰犬筑波集), xuất bản năm 1667. Bài thơ viết:
をどれるや 狂言金魚 秋の水
Odoreru ya / Kyougen kingyou / Aki no mizu
Tạm dịch:
Điệu múa duyên dáng
Cá vàng diễn điệu kyogen
Giữa làn nước mùa thu.
Đây được xem là bài haiku đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản lấy cá vàng làm chủ đề, mô tả những chú cá vàng bơi lội nhẹ nhàng và duyên dáng trong làn nước mùa thu trong vắt, trông như thể đang biểu diễn điệu múa trong các vở kịch kyogen.
Sức hút của những chú cá vàng còn được lưu lại trong những bài thơ trào phúng (senryu) thời Edo. Một bài thơ senryu ra đời năm 1774 viết:
金魚うり これかこれかと 追つかける
Kingyo-uri / Koreka korekato / Oitsukakeru
Tạm dịch:
Người bán cá vàng đi ngang qua,
Lũ trẻ vừa chạy theo vừa ríu rít:
“Con này! Con này!”
Chỉ với vài câu ngắn gọn, bài thơ đã tái hiện sinh động nhịp sống đời thường thời Edo qua khung cảnh đám trẻ háo hức vây quanh người bán cá vàng trên đường phố, đồng thời cho thấy cá vàng đã gắn bó quen thuộc với đời sống thường nhật của người dân Nhật Bản từ lâu đời.
Cá vàng trong nghệ thuật đương đại
Ngày nay, cá vàng vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng của nhiều nghệ sĩ Nhật Bản, nhưng được thể hiện bằng những ngôn ngữ nghệ thuật hoàn toàn mới.
Nổi bật nhất là nghệ sĩ đương đại Riusuke Fukahori, người đã dành cả sự nghiệp để tôn vinh vẻ đẹp của cá vàng trong những tác phẩm hội họa ba chiều của mình. Với kỹ thuật vẽ chồng các lớp sơn acrylic trên từng lớp nhựa thông trong suốt, anh đã gây tiếng vang trên toàn thế giới với những tác phẩm đầy sống động, đến mức những chú cá vàng trông như đang thực sự bơi lượn trong nước.
Nghệ sĩ Riusuke Fukahori nổi tiếng với những tác phẩm hội họa 3 chiều tái hiện sống động vẻ đẹp của cá vàng. Ảnh: fukahori-exhibit.jp
Ngoài ra, một cái tên tiêu biểu khác là nhà thiết kế Hidetomo Kimura, người đã đưa vẻ đẹp của cá vàng vào một không gian triển lãm đầy nghệ thuật. Tại triển lãm Art Aquarium Ginza (Tokyo), hàng nghìn chú cá vàng bơi lượn trong những bể kính nghệ thuật có hình khối độc đáo, kết hợp cùng ánh sáng, âm nhạc và nghệ thuật sắp đặt, tạo nên không gian nghệ thuật vừa sống động vừa huyền ảo, thu hút hàng triệu lượt khách tham quan mỗi năm.
Triển lãm Art Aquarium Ginza tọa lạc tại khu phố sầm uất Ginza ở Tokyo. Ảnh: TripAdvisor
Cá vàng vẫn rất được yêu thích cho đến ngày nay
Đến nay, cá vàng vẫn là một trong những loài vật nuôi yêu thích của người Nhật. Không chỉ xuất hiện trong gia đình hay trường học, người ta có thể dễ dàng bắt gặp một chiếc bể cá vàng tại phòng khám, sảnh văn phòng, các cửa hàng nhỏ ven đường và nhiều không gian công cộng khác.
Theo một khảo sát vào năm 2025, cá vàng cùng các loài cá cảnh đứng thứ ba trong danh sách vật nuôi phổ biến nhất tại Nhật Bản, chỉ xếp sau chó và mèo. Một số người cho rằng, tình yêu của người Nhật dành cho cá vàng bắt nguồn từ cùng một mỹ cảm đã tạo nên nghệ thuật bonsai hay ikebana: sự trân trọng vẻ đẹp nhỏ bé, tinh tế, cần được chăm chút tỉ mỉ và vừa đủ để thưởng ngoạn trong một không gian khiêm tốn.
Ảnh: Nippon
Mỗi giống cá vàng đều mang một vẻ đẹp riêng, có loài sở hữu chiếc đuôi xòe như cánh bướm, có loài lại có bộ vây dày tựa những cánh hoa đang nở. Với bộ vây mềm mại cùng dáng hình tròn trịa đáng yêu, chỉ cần ngắm nhìn chúng bơi trong làn nước mát lành cũng mang lại cảm giác thư thái, thanh bình, giúp xoa dịu phần nào những căng thẳng của cuộc sống thường nhật. Có lẽ chính vẻ đẹp mong manh, thanh nhã và bình lặng ấy đã giúp loài cá nhỏ bé này được yêu mến suốt hơn nửa thiên niên kỷ, đồng thời trở thành một phần của ký ức, văn hóa và mỹ học xứ Phù Tang.