Okami và tín ngưỡng thờ sói trong văn hóa Nhật Bản
0%
Bài: Ái Thương•Thiết kế: Q & H
Thường gắn với hình ảnh về loài săn mồi hung dữ, nhưng tại xứ Phù Tang, sói lại được người dân tôn thờ như một vị thần bảo vệ mùa màng, xua đuổi tà ma, dịch bệnh. Dù sói Nhật Bản đã tuyệt chủng cách đây hơn một thế kỷ, dấu vết của tín ngưỡng thờ sói vẫn còn hiện diện trong nhiều ngôi đền, truyền thuyết và đời sống tâm linh của người Nhật.
Khởi nguồn cho một tín ngưỡng linh thiêng
Trong tiếng Nhật, tín ngưỡng thờ sói được gọi là “Okami Shinko” (狼信仰), trong đó từ “狼 – Okami” có nghĩa là “sói”. Tục thờ phụng sói đã xuất hiện từ lâu trong dân gian, gắn liền với câu chuyện về Hoàng tử Yamato Takeru vào thế kỷ thứ hai.
Chuyện kể rằng, trong cuộc viễn chinh về phía đông, Hoàng tử Yamato Takeru đã bị một ác thần trong hình dáng một con nai trắng khổng lồ cản đường trên núi Mitake. Hoàng tử đã đánh bại con nai, nhưng ngay lúc ấy, núi non bỗng rung chuyển, mây mù kéo đến khiến ông và đoàn quân lạc đường.
Tượng komainu hình chó sói Nhật Bản tại đền Yamatsumi, tỉnh Fukushima. Ảnh: suikeikai
Trong lúc tuyệt vọng, một con sói trắng đã xuất hiện và dẫn đường cho đoàn quân thoát khỏi miền sơn cước. Hoàng tử rất cảm kích và nói với sói trắng: “Hãy ở lại núi Mitake với tư cách là Okuchi no Magami (大口真神 – Thần Miệng Lớn) và đánh bại mọi linh hồn tà ác”. Hoàng tử cũng sai người lập nhiều đền thờ sói trên các vùng núi mà ông đã đi qua.
Tượng sói tại đền Musashi Mitake ở Ome, Tokyo. Ảnh: meguri-japan
Theo thời gian, người Nhật quan niệm chó sói như một vị thần xua đuổi tà ma, bảo vệ mùa màng (vì chó sói săn lợn rừng, hươu nai phá hoại cây trồng), được sùng bái sâu sắc như một vị thần nông nghiệp gần gũi với cuộc sống của người dân. Còn ở thành thị, sói được thờ phụng như vị thần bảo vệ khỏi hỏa hoạn và trộm cắp.
Tương truyền, Thần Sói hiểu được ngôn ngữ của con người, cũng như có khả năng nhận biết bản chất con người, bảo vệ người thiện và trừng phạt kẻ ác.
Do bản chất của loài sói vốn sinh sống ở vùng núi, Okuchi no Magami có mối liên hệ mật thiết với tục thờ núi. Tại nhiều đền thờ sói, vị thần này được coi là người hầu của Thần Núi.
Vị thần xua đuổi dịch tả
Đó là niềm tin phổ biến của người Nhật trong thời kỳ bệnh tả bùng phát tại xứ Phù Tang. Vào năm 1822, tại Shimonoseki – mũi Tây Nam của Honshu, dịch tả lần đầu lây lan ở Nhật. Năm 1858, bệnh tả tiếp tục quay lại ám ảnh xứ Phù Tang với đại dịch thứ 3, lúc này dịch bệnh hoành hành ở Edo đã khiến 30.000 người tử vong.
Trong nỗi tuyệt vọng, người dân đã tìm đến Thần Sói, các đền thờ sói chật kín tín đồ đến dâng lễ cầu mong xua đuổi bệnh tả. Theo ghi chép của đền Mitsumine ở Chichibu, tỉnh Saitama – ngôi đền thờ sói nổi tiếng, từ mùa hè năm 1858, số lượng người hành hương lên núi để xin bùa sói chống bệnh tả tăng mạnh. Họ đến từ thành Edo cũng như các thị trấn dọc theo tuyến đường Tokaido.
Các mẫu bùa sói. Ảnh: meguri-japan
Vào ngày 24/08/1858, hơn 10.000 người đã đến xin bùa, con số này tăng lên gấp đôi vào ngày 10/11 và đạt 30.000 vào ngày 15/12 trong năm đó. Đến năm 1868, nhiều làng mạc tại vùng Izu cũng đã dùng bùa sói từ đền Mitsumine hay đền Kanazakura trên núi Kinpu, tỉnh Yamanashi.
Đền Kanazakura ở Koshu, tỉnh Yamanashi. Ảnh: meguri-japan
Tại sao lại chọn Thần Sói để tránh bệnh tả? Nguyên nhân được lý giải là do tư tưởng bài ngoại mạnh mẽ của người Nhật vào những năm 1850. Người dân lúc đó cho rằng bệnh tật xảy ra là do những con “quái vật” ngoại lai như chuột chũi, cáo của Mỹ hay thỏ đến từ nước Anh. Chúng đã mang mầm bệnh đến Nhật qua các chuyến tàu buôn nước ngoài.
Và người dân cho rằng chó sói Nhật Bản – những sinh vật bản địa, sẽ tiêu diệt các loài vật này. Trong cuốn sách Bakumatsu Kyoran: Korera ga Yatte Kita viết về sự xuất hiện của bệnh tả và cơn cuồng loạn bao trùm xã hội Nhật trong những năm cuối thời Edo, nhà sử học Takahashi Satoshi lập luận rằng việc người dân tìm đến tín ngưỡng thờ sói để chống lại bệnh tả là điều hoàn toàn tự nhiên. Sói được tôn thờ như một vị thần bảo hộ từ thời cổ đại, đại diện cho tất cả những gì tốt đẹp thuộc về Nhật Bản.
Lúc đó người dân vẫn chưa biết về đường lây lan và cách chữa bệnh tả nên không còn cách nào khác ngoài việc đặt niềm tin vào tâm linh, cầu xin thần thánh che chở. Đến năm 1883, tác nhân gây bệnh – vi khuẩn tả mới được bác sĩ kiêm nhà sinh vật học người Đức, Robert Koch phát hiện. Từ đó dịch tả mới dần được phòng chống theo cách khoa học.
Những ngôi đền và tập tục thờ sói ở Nhật Bản
Có nhiều ngôi đền thờ Okuchi no Magami (hay còn gọi là Oguchi Magami) được xây dựng trên khắp nước Nhật. Tại dãy núi Chichibu ở thượng nguồn sông Arakawa, tỉnh Saitama, có một cụm gồm 21 ngôi đền thờ Thần Sói, nổi tiếng nhất là đền Mitsumine được thành lập bởi hoàng tử Yamato Takeru cách đây 1.900 năm.
Khắp khuôn viên chùa Mitsumine có những tượng đá komainu (狛犬) được tạo hình giống như chó sói Nhật Bản. Đây là điểm đặc biệt của ngôi đền này, bởi thông thường komainu ở các đền Thần đạo có ngoại hình mô phỏng theo sư tử đá Trung Quốc và thường đi theo cặp.
Cổng Zuishinmon ở đền Mitsumine, với tượng sói đá trấn hai bên. Ảnh: donnykimball.com
Tại đền có cây Enmusubi (cây kết duyên), tương truyền nếu viết tên của người yêu hoặc một người mà bạn đang thầm thương lên giấy và đặt dưới gốc cây này thì tình duyên của bạn sẽ được như ý. Phía sau cây Enmusubi có đền Okariya (御仮屋), là nơi thực hiện nghi lễ cho thần Okuchi no Magami vào ngày 19 hằng tháng. Vị thần này được cho là sống ẩn mình sâu trong núi.
Thẻ gỗ ema hình sói ở đền Mitsumine. Ảnh: wildinjapan.wordpress.com
Okariya – đền phụ thờ Thần Sói bên trong đền Mitsumine. Ảnh: umamibites.com
Ngoài ra còn có một số địa danh linh thiêng liên quan, như đền Kinoyama ở thành phố Takahashi, tỉnh Okayama, phía tây đảo Honshu, từ lâu đã được biết đến là nơi chữa các bệnh truyền nhiễm và bệnh tâm thần với các nghi lễ cầu thần Okuchi no Magami.
Ở đây có một nhóm hội tôn giáo dựa trên tín ngưỡng thờ sói được thành lập từ năm 1876. Sau đó, khi dịch tả bùng phát kéo dài nhiều tháng vào năm 1879, tín ngưỡng thờ sói của đền Kinoyama đã lan rộng từ tỉnh Okayama đến khắp vùng tây nam Honshu và Shikoku.
Điệu múa nghi lễ kagura được biểu diễn tại lễ hội Oinu-ge của đền Muku – một ngôi đền thờ Thần Sói ở Chichibu, Saitama. Ảnh: meguri-japan
Bên cạnh việc đến đền thờ dâng lễ lên thần, người dân còn thực hành tín ngưỡng với các nghi lễ cùng vật phẩm cổ xưa. Từ xưa người dân đã tin rằng hài cốt như xương và sọ của những con sói đã chết có thể là bùa hộ mệnh rất linh thiêng. Nhu cầu này đã dẫn đến việc sói bị săn bắt và giết hại với số lượng lớn, góp phần khiến loài này đi đến chỗ tuyệt diệt.
Tuy nhiên tín ngưỡng thờ sói vẫn tồn tại đến ngày nay, không chỉ thể hiện trong văn hóa tâm linh dân gian mà còn trong văn hóa đại chúng. Như trong phim hoạt hình Công chúa Mononoke hay trò chơi điện tử Okami cũng cho thấy ảnh hưởng sâu sắc, linh thiêng của loài sói.
Trong Công chúa Mononoke, Moro là một Thần Sói 300 tuổi. Ảnh: Ghibli
Sói Nhật Bản vị thần đã tuyệt chủng
Sói Nhật Bản (tiếng Nhật: ニホンオオカミ – Nihon Okami, hoặc 山犬 – yamainu), còn được gọi là sói Honshu, là một phân loài đã tuyệt chủng của sói xám, từng là loài đặc hữu của các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu. Không có ghi chép khoa học nào xác nhận sự tồn tại của chúng kể từ khi cá thể cuối cùng bị bắt giữ tại làng Higashiyoshino, tỉnh Nara vào ngày 23/01/1905.
Tiêu bản nhồi bông của chó sói Nhật Bản tại Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Quốc gia, Tokyo cho thấy loài này có kích thước khá nhỏ, chiều cao tới vai chỉ khoảng 56-58cm. Ảnh: Wikipedia
Nguyên nhân là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm bệnh dại và các bệnh khác như viêm phổi lây lan từ chó phương Tây được mang đến Nhật Bản sau thời kỳ Minh Trị; chính sách đàn áp và săn bắt trái phép; và sự suy giảm nguồn thức ăn, môi trường sống khi lâm nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, ở các vùng núi, vẫn còn nhiều lời kể về việc nhìn thấy và nghe thấy tiếng chó sói hú, và một số nhóm vẫn tiếp tục tìm kiếm chúng, tin rằng chó sói Nhật Bản vẫn còn tồn tại ở đâu đó.
Hiện nay, tại các vùng núi của Nhật Bản, sự gia tăng mạnh mẽ của các loài động vật hoang dã như lợn rừng, hươu nai và khỉ đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho mùa màng và rừng. Người ta cho rằng lý do các loài động vật ăn cỏ này gia tăng số lượng nhiều như vậy là do sự biến mất của chó sói Nhật Bản.