Butoh: “Vũ điệu Bóng tối” thách thức những giới hạn nghệ thuật
0%
Bài: Bambi • Thiết kế: J
Cho phép cảm xúc vượt thoát khỏi mọi khuôn mẫu gò bó, biến cơ thể người nghệ sĩ trở thành phương tiện tỏ bày với thế gian. Đó là lối biểu diễn nghệ thuật mà Butoh - “Vũ điệu Bóng tối” của Nhật Bản, hướng đến. Điệu múa vừa độc đáo, vừa “quái dị” này đã phá vỡ các quy tắc duy mỹ đương thời để tạo cơ hội cho người vũ công hết mình với nghệ thuật mà không cần quá bận tâm theo đuổi sự hoàn hảo.
Điệu múa phá vỡ khuôn mẫu thẩm mỹ
Butoh là một điệu múa theo thể loại Avant-garde của Nhật Bản, do hai nghệ sĩ Tatsumi Hijikata và Kazuo Ono khởi xướng sau Thế chiến II. Avant-garde là trào lưu xuất hiện nhiều trong lĩnh vực nghệ thuật, với mục đích cốt lõi là thách thức những nguyên tắc và chuẩn mực thẩm mỹ, phong cách cổ điển đã được định hình từ trước.
Ban đầu, điệu nhảy này được gọi là Ankoku Butoh (暗黒舞踏 - ÁM HẮC VŨ ĐẠP) - “Vũ điệu Bóng tối”. Sau này, tên gọi được thay đổi thành Butoh (舞踏 - VŨ ĐẠP) - một từ vựng từng được sử dụng để chỉ điệu khiêu vũ trong các sảnh tiệc châu Âu.
Ảnh: bostondancealliance.org
Butoh được sinh ra trong bối cảnh xã hội thời hậu chiến đối diện với nhiều biến động, đáng chú ý nhất là sự du nhập ào ạt của văn hóa phương Tây và ảnh hưởng của chúng lên nghệ thuật Nhật Bản. Hijikata và Ono tin rằng đất nước đang quá đắm chìm vào việc cố gắng “mô phỏng” các giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật biểu diễn từ phương Tây. Đồng thời, họ muốn tạo ra một loại hình biểu diễn khác biệt với nghệ thuật truyền thống vốn luôn tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt về trang phục, cách diễn, như kịch Kabuki hay kịch Noh.
Ảnh: meanycenter.org
Bản thân Butoh rất khó diễn giải vì ngay cả những người sáng lập cũng chưa từng thiết kế một khung quy chuẩn thống nhất về cách trình diễn. Những đặc điểm thường thấy trên một sân khấu Butoh có thể là chuyển động chậm rãi hay co giật theo điệu nhạc ma mị, phấn trắng bôi khắp cơ thể vũ công, đầu đôi khi cạo trọc và những biểu cảm cường điệu…
Ảnh: meanycenter.org
Các vở diễn khắc họa nhiều câu chuyện khác nhau, bao gồm cả những chủ đề bị đánh giá là kỳ quái, gợi dục và thậm chí là bị cấm kỵ. Sự biến đổi trạng thái, điển hình như khoảnh khắc con người vừa chào đời, trở thành một sự sống mới hoặc trải qua quá trình biến đổi đem lại đau đớn cũng là một trong những chủ đề thường thấy trong Butoh. Để tái hiện cảm giác quằn quại ấy, vũ công sẽ nằm thành tư thế bào thai, cơ thể co quặp trước khi đứng dậy, uốn nắn tứ chi thành các tư thế trải rộng, duỗi thẳng.
Màn trình diễn DEAD1 biên đạo bởi Ko Murobushi - học trò của nhà sáng lập Butoh Tatsumi Hijikata, tại nhà hát Lliure, Barcelona vào năm 2010. Ảnh: ko-murobushi.com
Một điểm thú vị khác ở Butoh là người trình diễn không nhất thiết phải “đóng vai con người”. Thay vào đó, họ có thể biến thân thành một hòn đá vô tri vô giác hoặc một tấm thảm ướt. Yoko Ashikawa, một trong những nghệ sĩ Butoh thế hệ đầu tiên, từng hóa thành một cái cây đang chịu đựng sự thay đổi của bốn mùa.
Nếu người nghệ sĩ nghĩ quá nhiều về các động tác, sự sống trong vũ điệu Butoh sẽ mất đi. Ảnh: atmos.earth
Nhìn chung, điều quan trọng nhất đối với các vũ công Butoh không phải là “nhảy đúng động tác” hay “nhảy đẹp”, mà là tập trung loại bỏ những khuôn khổ trói buộc con người để đưa những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ nằm im trong tâm hồn người nghệ sĩ ra bên ngoài, thể hiện chúng bằng cơ thể.
Màn trình diễn MEGURI của nhóm múa Butoh Sankai Juku.
Cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn nghệ sĩ
Tatsumi Hijikata sinh ngày 09/03/1928 tại tỉnh Akita, với tên khai sinh là Yoneyama Kunio. Ông là người con thứ 10 trong số 11 anh chị em, có cha mẹ làm nông dân và kinh doanh một quán mì soba. Khi ấy, vùng Tohoku nơi ông sinh ra và lớn lên được cho là lạc hậu, kém phát triển. Giọng địa phương trong vùng còn thường bị đem ra làm trò cười trên sóng truyền hình.
Tatsumi Hijikata. Ảnh: numeridanse
Ông rời quê nhà và chuyển đến Tokyo năm 1952. Lúc này, trạng thái hỗn loạn sau cuộc chiến tranh vẫn còn bao trùm và nền kinh tế của đất nước đang phải chật vật tìm đà hồi phục. Mặt khác, giới nghệ sĩ tại Tokyo lại cảm thấy tự do, như thể bản thân họ đã được “giải phóng” về mặt nghệ thuật khi hệ giá trị trong xã hội ngày một thay đổi theo hướng dân chủ hơn.
Tatsumi Hijikata trong màn biểu diễn Nikutai no Hanran (肉体の叛乱). Ảnh chụp bởi nhiếp ảnh gia Roku Hasegawa năm 1968. Ảnh: nonaka-hill
Phong cách phóng khoáng của những người nghệ sĩ tại Tokyo đã làm rõ sự khác biệt giữa họ và Hijikata, lúc bấy giờ chỉ là một chàng trai trẻ xuất thân từ thôn quê. Nơi phố thị lạ lẫm, ông phải làm nhiều nghề để trang trải cuộc sống, như đi bốc vác ở bến cảng hay buôn đồng nát trong khi vẫn duy trì nghề múa. Khi ấy, thế giới tràn đầy nghịch lý của nhà văn người Pháp Jean Genet đã thu hút Hijikata và có ảnh hưởng sâu sắc đến hành trình làm nghệ thuật của ông về sau.
Một điểm ngoặt khác trong cuộc đời của Hijikata là cuộc gặp gỡ với Kazuo Ono - người sau này sẽ cùng ông sáng lập nên Butoh.
Ảnh chụp Kazuo Ono bởi nhiếp ảnh gia Eikoh Hosoe cho áp phích La Argentina Sho. Ảnh: dance-archive.net
Kazuo Ono sinh ngày 27/10/1906 tại thành phố Hakodate, Hokkaido. Năm 1938, Ono nhập ngũ và trải qua khoảng 2 năm làm tù nhân chiến tranh. Sau khi trở về từ khói đạn, ông tổ chức buổi biểu diễn độc lập đầu tiên vào năm 1949 tại Tokyo mang tên gọi Kurage no Odori (クラゲの踊り) - “Điệu nhảy con sứa”. Người ta cho rằng màn trình diễn này lấy cảm hứng từ lễ thủy táng diễn ra trên con tàu chở tù binh hồi hương về Nhật.
Buổi diễn của Ono đã mê hoặc Hijikata và là điểm khởi đầu cho mối quan hệ cộng tác, gắn bó đầy thân thiết của họ qua nhiều năm tháng. Cuối thập niên 1950, hai người nghệ sĩ cùng sáng lập nên Butoh, một phong cách múa không đi theo lối mòn truyền thống, cũng không giống với những điệu nhảy đương đại ở phương Tây.
Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng Butoh khởi nguồn vào năm 1959, với tác phẩm Kinjiki (禁色 - CẤM SẮC) do Tatsumi Hijikata sáng tác và trực tiếp biểu diễn. Vở diễn kéo dài khoảng 15 phút, khai thác chủ đề tình yêu đồng tính nam, với nhan đề trùng với cuốn tiểu thuyết của tác giả Yukio Mishima.
Bìa sách Kinjiki của Yukio Mishima. Ảnh: eslite
Tác phẩm mở đầu trong bóng tối, chỉ có tiếng bước chân của Hijikata đuổi theo Yoshito Ono - người khi ấy chỉ mới 17 tuổi và là con trai thứ của Kazuo Ono. Kéo theo sau đó, tiếng ngã và những âm thanh rên rỉ mang tính gợi dục vang lên. Có lúc trong buổi diễn, Hijikata đưa Yoshito một con gà như vật đại diện cho tình yêu và yêu cầu anh siết chết nó giữa hai chân (hành động này chỉ là diễn).
Vở diễn Kinjiki tái hiện lần 2 sau khi được Hijikata viết lại. Ảnh chụp bởi nhiếp ảnh gia Kiyoji Otsuji năm 1959. Ảnh: nonaka-hill
Việc khai thác chủ đề đồng tính nam vốn được xem là điều cấm kỵ trên sân khấu Nhật Bản thời bấy giờ, cùng những chi tiết gây sốc trong màn biểu diễn khiến tác phẩm vấp phải nhiều lời chỉ trích. Sau đó, Hijikata và Ono phải rời khỏi Hiệp hội Múa Nhật Bản, còn Butoh cũng bị giới chuyên môn nhìn nhận dè dặt hơn.
Tatsumi Hijikata trong vở diễn Shizukana Ie, chụp bởi Takeshi Onozuka năm 1973. Ảnh: nonaka-hill
Hai ngả đường của Butoh
Về sau, các tác phẩm của Hijikata thường mang thiên hướng chống lại những cái đã “thành hình, thành nếp”. Sự cộng tác với nhiếp ảnh gia Eikoh Hosoe, nhà văn Yukio Mishima và nhà làm phim Donald Richie cũng làm phong phú thêm cách tiếp cận của ông với nghệ thuật múa.
Màn trình diễn mang tên Hosotan (疱瘡譚) - “Câu chuyện về bệnh đậu mùa” vào năm 1972. Thông qua Butoh, Hijikata khắc họa một cơ thể ốm yếu, bệnh tật, không thể đứng vững dù cố gắng hết sức.
Sau năm 1976, Hijikata quay về tập trung viết lách, giảng dạy và biên đạo cho các nghệ sĩ khác như Kazuo Ono. Tuy có dự định quay lại biểu diễn nhưng ông đột ngột qua đời vì căn bệnh suy gan năm 1986, hưởng thọ 57 tuổi.
Trái ngược với người cộng sự Ono, ông chưa từng bước chân ra thế giới cho những chuyến lưu diễn toàn cầu. Hijikata từng chia sẻ rằng lý do bản thân không nhận lời mời diễn ở nước ngoài là vì: “Tôi không thể múa trên mặt đất cứng ở phương Tây. Sân khấu của tôi phải là bùn đất.” Hiện nay, các tác phẩm của ông, bao gồm phim và sổ ghi chép được lưu trữ tại Đại học Keio.
Ảnh chụp Hijikata của nhiếp ảnh gia Masahisa Fukase năm 1970. Ảnh: nonaka-hill
Trong khi Tatsumi Hijikata vẫn thường được biết đến như lá cờ đầu khởi xướng Butoh, Kazuo Ono lại là người đóng vai trò đưa Butoh vươn tầm thế giới.
Ảnh chụp Kazuo Ono (trái) và Tatsumi Hijikata (phải) bởi nhiếp ảnh gia Eikoh Hosoe, năm 1965. Ảnh: nonaka-hill
Năm 1977, màn trình diễn La Argentina Sho (ラアルヘンティーナ頌) do Hijikata đạo diễn, trình diễn bởi Ono đã giành giải thưởng danh giá Dance Critics' Circle tại Nhật Bản. Về sau, những chuyến lưu diễn khắp châu Âu và Bắc Mỹ của ông cùng những nghệ sĩ Butoh khác đã giúp danh tiếng của điệu nhảy này lan rộng, nhận về nhiều lời tán dương cho đến tận ngày nay.
Áp phích buổi ra mắt La Argentina Sho của Kazuo Ono năm 1977. Ảnh: dance-archive.net
Năm 1999, màn biểu diễn mang tên Requiem for the 20th Century (20世紀への鎮魂) tại tổ chức Japan Society, New York đánh dấu lần cuối cùng Ono xuất hiện ở sân khấu quốc tế. Tuổi già khiến ông khó cử động cơ thể, nhưng cho dù phải nhập viện vì lý do sức khỏe, ông vẫn tiếp tục “biểu diễn” bằng đôi mắt và hơi thở của mình.
Trong cuốn sách Keiko no Kotoba (稽古の言葉), ông viết: “Ngay cả khi đã rời xa xác thịt và xương cốt, tôi vẫn muốn tiếp tục múa như một hồn ma.”
Kazuo Ono qua đời vào tháng 06/2010, hưởng thọ 103 tuổi.
Được đón nhận rộng rãi ở phương Tây
Tuy vấp phải làn sóng phản đối kịch liệt từ các nhà phê bình, hai nhà sáng lập vẫn giữ tinh thần bền bỉ và tiếp tục theo đuổi loại hình nghệ thuật này cho đến nhiều năm sau đó.
Từ đầu thập niên 1980, các đoàn Butoh đổ dồn sang châu Âu và Hoa Kỳ trong bối cảnh xã hội phương Tây không ngừng khao khát một làn gió mới. Chính vì lý do này, thế hệ thứ hai của Butoh dần được thế giới biết tên, điển hình như Akaji Maro thuộc nhóm Dairakudakan, Ushio Amagatsu thuộc nhóm Sankai Juku, cũng như Min Tanaka và Masaki Iwana...
Từ thế hệ tiếp theo, nhiều nghệ sĩ bắt đầu tự mình tạo ra các phong cách biểu diễn Butoh riêng biệt. Việc này giúp hình thành những màn trình diễn thu hút theo nhiều phương diện khác nhau: Dairakudakan nổi bật nhờ các cảnh quay siêu thực, Sankai Juku theo đuổi phong cách thanh thoát, dựng cảnh tỉ mỉ…
Nhóm múa Butoh Sankai Juku. Ảnh: atmos.earth
Trong thập niên 1980, Butoh phát triển mạnh mẽ trong quá trình giao lưu rộng rãi với giới làm nghệ thuật quốc tế. Cũng trong giai đoạn này, nhiều nghệ sĩ Nhật Bản không muốn “dán nhãn” loại nghệ thuật bản thân theo đuổi là Butoh và có xu hướng thay đổi tên gọi của chúng để thể hiện bản sắc riêng. Chẳng hạn, Aki Suzuki đã từ bỏ nghệ danh Butoh của mình là Akeno và gọi phong cách biểu diễn của bản thân là Hikari (光 - QUANG) - “Vũ điệu Ánh sáng”.
Khi thế hệ thứ ba xuất hiện, cùng với đó là tình hình kinh tế Nhật Bản suy thoái đầu thập niên 1990, nhiều nghệ sĩ Butoh nhận thấy cơ hội phát triển ở nước ngoài khả quan hơn và đã chuyển sang thị trường quốc tế để biểu diễn, làm việc lâu dài. Cũng chính sự giao thoa văn hóa diễn ra trong nhiều năm này đã ảnh hưởng đến những vũ công phương Tây, truyền cho họ cảm hứng để trở thành vũ công Butoh. Một ví dụ điển hình là Susanna Åkerlund người Thụy Điển, được biết đến với nghệ danh là Su-En.
Được đón nhận rộng rãi ở phương Tây
Trong khi Butoh liên tục lớn mạnh trong thị trường quốc tế thì tại Nhật Bản, sự phát triển của loại hình biểu diễn này vẫn gặp phải nhiều hạn chế.
Butoh là một hình thức biểu đạt nghệ thuật bằng cơ thể, hoàn toàn không có quy định rõ ràng về “cách múa”. Kể từ thập niên 1960, mỗi nghệ sĩ lại tiếp tục thay đổi và xây dựng các cách biểu diễn riêng, nên thật khó để biết chắc Butoh sẽ được truyền lại cho thế hệ sau dưới hình thức nào. Đây là một trong những lý do khiến nhiều người cảm thấy lo lắng về tương lai của Butoh, cho rằng nó có thể đánh mất tinh thần ban đầu nếu bị biến tấu quá nhiều.
Ảnh: atmos.earth
Norihito Ishii, nghệ sĩ Butoh đến từ nhóm Sankai Juku đã chia sẻ góc nhìn của mình về tương lai của Butoh. Ông cho biết: “Butoh đang suy giảm ở Nhật, nhưng chúng tôi đang tìm cách cho công chúng thưởng thức nó như một loại hình giải trí, cũng như tìm cách đưa nó đến với xã hội đương đại như một loại hình nghệ thuật khái niệm (conceptual art).”